2/7/14
Câu Chuyện Dưới Cờ 29/6/2014
17/2/13
Câu Chuyện Dưới Cờ ngày 17/02/2013
Người Phật tử nói chung, người Huynh trưởng Gia đình Phật Tử nói riêng phải luôn có chánh niệm, phải xem Tâm của mình như con Trâu hoang, mà mình là người mục đồng khéo chăn trâu.
Làm sao để biết con trâu Tâm ở đâu để “chăn”? _Xin thưa, trong Kinh Di Giáo, đức Phật ví tâm của chúng sanh, biểu hiện qua các cửa ngõ Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý, nếu không được huấn luyện thì cũng như con trâu hoang chạy lung tung, đạp phá lúa mạ của người ta, còn chúng ta thì nếu chạy theo 6 trần (Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp) sống buông lung phóng dật thì sẽ bị phiền não đau khổ theo liền!
Đức Phật còn dạy cho các vị Tỳ kheo về “Nghệ thuật chăn trâu” trong Kinh Phóng Ngưu như sau:
- Nếu người mục đồng nhận diện được con Trâu của mình thì người xuất gia cũng phải nhận ra được những yếu tố cấu tạo nên sắc thân của mình.
- Nếu người mục đồng nhìn ra được con Trâu của mình ở giữa một bầy Trâu thì người xuất gia cũng phải nhận ra được những hành động nào của thân, miệng, ý của mình là thiện (nên làm) hay bất thiện (không nên làm)
- Nếu người mục đồng biết tắm rửa sạch sẽ cho Trâu thì người xuất gia cũng phải biết buông xả, gột rửa, thanh lọc Tâm mình khỏi những ô nhiễm của 3 chất độc Tham, Sân, Si.
- Nếu người mục đồng biết chăm sóc các vết thương của Trâu thì người xuất gia cũng phải biết hộ trì 6 căn Mắt Tai Mũi Lưỡi Thân Ý của mình để cho 6 Trần không thể lung lạc được.
- Nếu người mục đồng biết un khói để Trâu khỏi bị muỗi đốt thì người xuất gia cũng phải biết đem Phật Pháp truyền bá cho người chung quanh để họ được lợi lạc.
- Nếu người mục đồng biết tìm đường đi an toàn cho trâu thì người xuất gia cũng phải biết tránh những con đường đưa đến danh lợi, sắc dục, hý trường, v.v..
- Nếu người mục đồng biết thương yêu trâu thì người xuất gia cũng phải biết quí trọng những niềm vui an lạc do thiền tập đem đến.
- Nếu người mục đồng biết tìm bến tốt cho Trâu qua sông thì người xuất gia cũng phải biết nương vào “Bốn sự Thật cao thượng” (Tứ Diệu Đế) để biết bến biết bờ.
- Nếu người mục đồng biết tìm nơi có cỏ non và nước uống cho Trâu thì người xuất gia cũng phải biết rằng “Tứ Niệm Xứ” là mảnh đất tốt để trổ hoa giác ngộ.
- Nếu người mục đồng biết bảo trì những vùng thả trâu thì người xuất gia cũng phải biết thận trọng khi tiếp xúc với quần chúng và thu nhận của cúng dường
- Nếu người mục đồng biết dùng những con trâu lớn làm gương cho trâu con thì người xuất gia cũng phải biềt nương vào đức hạnh và kinh nghiệm của các bậc Thầy đi trước.
Người Huynh trưởng Gia Đình Phật Tử tuy không phải là người xuất gia vì xuất gia có 3 nghĩa; đó là: xuất thế tục gia, xuất phiền não gia, xuất tam giới gia. Tuy chúng ta không xuất thế tục gia nhưng “gia đình” của Anh Chị Em chúng ta là một gia đình rộng lớn, không chỉ gia đình huyết thống mà còn gia đình tâm linh, gia đình này hôm nay đã lan rộng khắp thế giới... như vậy coi như chúng ta đã phần nào xuất thế tục gia. Còn “phiền não” thì ai lại không muốn ra khỏi? Thế cho nên những lời đức Phật dạy cho chư Tỳ kheo chúng ta vẫn có thể áp dụng cho mình.
Nhân đầu năm mới,
Xin kính chúc Anh Chị Em Huynh trưởng khắp nơi
Một Năm mới Quý Tỵ bình yên vô sự
365 ngày đầy đủ sức khỏe,
Tinh tấn tu học
Và an lạc thảnh thơi
BBT
4/3/12
Câu Chuyện Dưới Cờ ngày 4/03/2012
13/2/12
Câu Chuyện Dưới Cờ 12/02/2012
Mỗi khi chúng ta đi thiền hành, vị thầy hướng dẫn luôn nhắc nhở phải bước những bước chân vững chãi, tỉnh thức, như bước đi của đức Phật v..v..
Ở những nơi ghi lại các thánh tích, chúng ta cũng thấy hình những bước chân Phật để kỷ niệm sự việc Thái Tử Tất Đạt Đa (Bồ tát Hộ Minh) khi giáng trần, đã đi 7 bước trên hoa sen.
Hôm nay anh chị em chúng ta cùng nhau ôn lại 7 bưóc này để làm đề tài quán chiếu của mình trong 7 ngày của tuần lễ nha!
Bước thứ nhất, ngài nhìn về phương Đông và nói: “vì chúng sanh mà ta làm bậc đạo sư.” Phương Đông là phương mặt trời mọc, tượng trưng cho trí tuệ, cho nguồn năng lượng vĩ đại nuôi dưỡng và sưởi ấm muôn loài. Cũng vậy, Bồ tát xuất hiện để làm Phật, đem nguồn tuệ giác soi đường cho chúng sanh, khai thị cho chúng sanh thấy được Phật tánh trong mỗi người. Như vậy bước chân thứ nhất là bước chân của bậc Đạo Sư đầy đủ trí đức.
Bước chân thứ hai, ngài nhìn về phương Nam và nói: “vì hết thảy chúng sanh mà ta làm ruộng phước.” Ruộng, đất là nền tảng vững chắc, nơi chúng sanh làm nhà để ở, gieo trồng lúa gạo, cây trái v.v.. để nuôi thân. Cũng vậy, Bồ tát xuất hiện làm Phật, làm mảnh đất, mảnh ruộng để chúng sanh có nơi nương tựa, gieo trồng và vun xới những hạt giống từ bi, trí tuệ, mai sau gặt được những hoa trái giác ngộ, giải thoát. Phương Nam là biểu tượng của Trung Đạo (ở giữa Đông và Tây) hay là chánh trực. Trung đạo như chúng ta đã biết, đó là không rơi vào hai cực đoan, ví dụ về phương diện tu tập không rơi vào ép xác khổ hạnh, cũng không bị cuốn vào phóng dật, buông thả …. Như vậy, bước chân thứ hai của ngài là bước chân phước điền đầy ân đức, nuôi lớn những hành vi tốt đẹp, thiện lành của chúng sanh.
Bước chân thứ ba, ngài nhìn về phương Tây và nói: “vì hết thảy chúng sanh, thân này là thân sau cùng.” Phương Tây là phương mặt trời lặn, đối với chúng sanh trên mặt đất này thì mặt trời mọc ở phương Đông, lặn ở phương Tây, nên phương Tây là điểm kết thúc của 1 hành trình, chu kỳ của 1 ngày. Đó chính là nơi gặt hái những hoa trái thơm ngon của cõi Cực Lạc, (cõi Tịnh Độ) khi, suốt hành trình, công phu niệm Phật “nhất tâm bất loạn” được thành tựu viên mãn. Cũng vậy, Bồ tát bằng đại hạnh và đại nguyện của mình, trong quá trình tu tập, vượt thắng tất cả chướng ma để kết thúc vòng luân hồi sinh tử. Như vậy, bước chân thứ ba của ngài là bước chân của thân cuối cùng trong sinh tử luân hồi, còn gọi là bước chân đoạn đức _ bước chân đã đoạn tận tất cả những phiền não, ô nhiễm để đạt Niết bàn hay Cực Lạc.
Bước chân thứ tư, ngài nhìn về phương Bắc và nói: “vì hết thảy chúng sanh mà ta thành tựu Giác ngộ vô thượng”. Phương Bắc là giao tuyến của Đông và Tây, giữa sáng và tối, giữa ngày và đêm, giữa sinh tử và niết bàn. Cũng vậy Bồ tát vì đại nguyện cứu độ chúng sanh, thị hiện vào cõi Ta Bà, bóng đêm của sinh tử, tinh tấn tu tập để thành tựu Đạo Giác ngộ Vô thượng, nghĩa là từ bóng đêm sinh tử bước ra vùng ánh sáng của trí tuệ và từ bi. Như vậy, bước chân thứ tư là bước chân của đại nguyện.
Bước chân thứ năm, nhìn xuống phương Dưới, ngài nói: “vì hết thảy chúng sanh mà tận diệt 10 đạo quân của ma vương” Chúng ta đã biết “ma” là tất cả những chướng ngại ngăn chận sự tu tập, chúng ở ngay trong tâm ta, chúng là những hạt giống bất thiện trong ta (là chấp ngã, là thành kiến v.v..) Phương Dưới là biểu tượng của những sự thấp hèn, kém cỏi, xấu ác về thân, lời, ý …. Cho nên Bồ tát xuất hiện trong cuộc đời dùng gươm bén của trí tuệ chặt đứt tất cả ma phiền não để cứu độ chúng sanh. Như vậy bước thứ năm là đại phá ma quân hay là tuệ đức.
Bước chân thứ sáu, nhìn lên phương Trên, ngài nói: “vì hết thảy chúng sanh mà làm nơi nương tựa cho thế giới Trời, Người” Phương Trên là biểu tượng của những gì cao quí, thiện lành … hai loại chúng sanh “cao nhất” trong lục đạo là Trời và Người. Cho nên Bồ tát thị hiện ra đời để cứu những chúng sanh đó; vì tuy ở “cao” hơn, có nhiều phước báo hơn, nhưng vẫn còn tham sân si nên vẫn còn có thể bị đọa nếu không lo tu tập. Như vậy bước chân thứ sáu là bước chân nhân thiên qui kính còn gọi là bước chân đại đức.
Bước chân thứ bảy, chúng ta đã nhớ rồi, đó là bước chân cuối cùng, một tay chỉ lên trời, 1 tay chỉ xuống đất, ngài nói “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn” câu nói bất hủ và cũng là đề tài bất tận của những nhà học giả nghiên cứu đạo Phật _ chưa ai giải thích thỏa đáng cho tất cả mọi người. Nói xong câu này, có 2 dòng nước nóng và lạnh phun ra tắm cho ngài, sau đó ngài trở lại như những em bé bình thường (chưa biết đi, chưa biết nói)
Thưa Anh Chị Em,
Như thế đó, là 7 bước của đức Phật. Chúng ta, với danh nghĩa là con Phật, là Huynh trưởng Gia Đình Phật Tử, chúng ta cũng phải thực tập những bước chân như vậy, những bước chân của Đại Bi, Đại Trí, Đại Hùng, Đại Lực, Đại Nguyện v.v.. và TIN rằng chúng ta cũng bước được những bước vững chải, thảnh thơi như Đức Phật vậy, chúng ta phải duy trì niềm tin ấy, để nó luôn có mặt mỗi khi ta cất bước… Đến một lúc nào đó, 7 bước chân sẽ được thuần hoá, và kiên định, “thường trú” trong tâm ta. Và như vậy đức Phật không chỉ có mặt trong ta (dưới hình thức Phật tánh) mà còn có mặt trong mỗi bước chân của chúng ta.
Thân kính chúc Anh Chị Em tinh tấn tu tập pháp môn “từng bước nở hoa sen” với 7 bước chân của đức Phật.
Trân trọng,
BBT
13/3/11
Câu Chuyện Dưới Cờ 13/03/2011
| Hằng tuần _hằng ngày _ mỗi khi dâng hương, hay trong buổi lễ Phật ở Đoàn hay ở nhà chúng ta đều có đọc: Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn Lưới Đế Châu ví đạo tràng Mười phương Phật bảo hào quang sáng ngời v..v… Lưới Đế châu là lưới của Trời Đế Thích. Lưới được làm bằng những hạt châu báu sáng chói. Vì các hạt châu trong suốt nên ánh sáng chiếu đến, phản xạ nhiều lần tạo thành vô số hạt châu giống hệt nhau, nhiều đến vô cùng, vô tận! Mỗi hạt ngọc trong suốt ấy chứa các hạt ngọc khác giống hệt nó, tạo nên một mạng lưới ánh sáng. Đạo Phật gọi mạng lưới ấy là Lưới Trời Đế Thích hay lưới Nhân Đà La; và hiện tượng tương giao, tương tức này gọi là giáo lý Duyên khởi, trùng trùng duyên khởi, từ đó đạo Phật giải thích tại sao nói “Tất cả là Một, Một là tất cả”; bởi vì nếu không có cái Một sẽ không có cái Tất cả, nếu duyên tụ lại thì CÓ (HỢP) mà các duyên không tụ lại hay rời ra thì thành KHÔNG (TAN). Cũng từ đó, quan niệm về “khoảnh khắc thành thiên thu” và “một hạt cải chứa cả tam thiên đại thiên thế giới” được hình thành. Thưa Anh Chị Em, Trở về với khoa học hiện đại, có phải Trang Nhà Thế Giới của ACE chúng ta được coi như mạng lưới toàn cầu của GĐPT chúng ta hay không? _ Xin thưa, đúng vậy, ACE Lam Viên chúng ta, và cả những Bạn đoàn của chúng ta nữa, ở khắp nơi trên thế giới, có thể vào trang Nhà của GĐPT Thế Giới nói riêng (các Trang Nhà khác nói chung) mà không cần di chuyển, không cần thêm bớt, không đi không đến … Thật vậy, mỗi máy nhỏ là một cái nút của lưới, được liên hệ với nhau bằng những dây nối (links) và qua hệ thống các monitors và servers, những nút và dây nối tạo thành “Mạng lưới” (Net) Chúng ta chỉ cần mở máy ra, bấm vào địa chỉ của Trang Nhà rồi ngồi đó, dán mắt vào Trang Nhà trên màn hình nghĩa là chăm chú quan sát, như nhà chiêm tinh quan sát một vì sao trong viễn vọng kính hay ông thầy bói tướng nhìn vào quả cầu thủy tinh của mình. Chúng ta vào ra các trang Nhà không ai trở ngại ai, đây chính là giáo lý “sự sự vô ngại” trong kinh Hoa Nghiêm của Đại thừa Phật giáo vậy! Tất nhiên là “sự sự vô ngại” về kỷ thuật tức là về thế giới tự nhiên, còn thế giới tâm linh, tình cảm thì chưa chắc, phải không thưa các bạn? Thật vậy, những Trang nhà vốn là những mái nhà chung của ACE chúng ta nói riêng, của tất cả mọi người trên thế giới nói chung, những người có cùng lý tưởng, cùng tôn chỉ, cùng khuynh hướng nào đó, ... Từ những Trang Nhà đã sản sinh rất nhiều tình bạn, tình đồng Đội, đồng hương, … có khi cả tình yêu nữa!! Nhiều thanh niên nam nữ chỉ email qua lại với nhau rồi đi đến tìm hiểu, yêu mến, đến tiến thành hôn nhân v..v.. NHƯNG (Thế gian bao giờ cũng có những chữ “NHƯNG” đáng tiếc này!!) cũng từ những trang nhà, nói đúng hơn là từ hệ thống email thông tin nhanh chóng vô cùng này, đôi khi không có “sự sự vô ngại” vì “9 người 10 ý” rồi trở nên xung đột, thay vì bạn lại hoá ra thù !! !! Thưa Anh Chị Em, Chúng ta không luận bàn về lợi hại sự tiến bộ của khoa học, cũng không nói đến tâm thị phi của chúng sanh mà chỉ nói chuyện trong nhà với nhau; do có những hiện tượng như vậy nên khi lên Trang Nhà, khi đặt bút viết ra một email v.v.. chúng ta phải hết sức cẩn trọng, vì đó là 1 luồng ánh sáng chiếu ra vô số những hạt ngọc châu trên khắp thế giới, tất cả những hạt châu đó đều có phản xạ trở lại “y chang” như hình ảnh phát ra _ hoặc hữu hình, hoặc vô hình; hữu hình là những phản ứng qua lại trên email, vô hình là tác dụng nhân quả thậm thâm, vi diệu. Kính chúc Anh Chị Em Huynh trưởng bốn phương đầy đủ sức khoẻ và luôn giữ Tâm thanh tịnh để phục vụ, bảo vệ Đạo Pháp và Tuổi Trẻ một cách hữu hiệu. Trân trọng, BBT |
13/2/11
Câu Chuyện Dưới Cờ - Thầy Phổ Hòa
| Thưa Anh Chị Em Huynh Trưởng bốn phương, Tết Tân Mão năm nay ACE chúng ta vừa đón Xuân xong thì tin buồn lại đến: Thầy Thích Phổ Hoà tức anh Hồng Liên Phan Cảnh Tuân, một đóa Sen Hồng vừa rời Ao Sen GĐPT VN để bay về Ao Sen của Tịnh Độ, dưới chân đức Phật A Di Đà. Bây giờ Tịnh Độ đã có Anh góp mặt với các Anh Chị trưởng bối của chúng ta để phân công thực hiện công tác ngàn mắt ngàn tay của đức Quán Thế Âm cứu khổ chúng sanh ở cõi Ta Bà. Thưa Anh Chị Em, Nhục thân của Thầy Phổ Hòa sẽ trở về với cát bụi, nhưng tâm tư của Thầy, hình ảnh của Thầy, tấm lòng của Thầy v.v.. sẽ còn sống mãi trong tâm khảm Anh Chị Em Huynh trưởng GĐPT chúng ta. Ai đã từng quen biết Thầy, tiếp xúc với Thầy, gặp gỡ Thầy, đều thấy được, cảm nhận được tấm lòng của Thầy đối với tổ chức GĐPT nói chung, với từng Anh Chị Em chúng ta, nói riêng (khi nghe biết đây là 1 huynh truởng hay 1 thành viên GĐPT thì Thầy hân hoan đón tiếp chào mừng, như gặp 1 người bà con thân thích, dù đó chỉ là 1 em nhỏ, Thiếu Nam / Thiếu Nữ hay Oanh Vũ …. ) Lời cuối của Thầy là xin được mặc áo Lam cài hoa Sen Trắng, nên các vị lo việc tẩm liệm cho Thầy sẽ mặc áo Lam bên trong và khoác áo vàng của chư Tăng ra ngoài cho Đại Đức Thích Phổ Hoà. Mỗi lần có một Huynh trưởng ra đi, chúng ta lại nghĩ đến sự mất mát của Tổ chức, đến khoảng trống khó bù đắp để thương tiếc, bùi ngùi, … nhưng đồng thời cũng hy vọng ở sự lớn mạnh của thế hệ trẻ từng ngày từng giờ trong nước cũng như hải ngoại… Giáo lý Đạo Phật dạy chúng ta hiểu rõ về Vô Thường, có Đến phải có Đi, có Sinh phải có Diệt, có Sum họp (hợp) ắt phải có Chia ly (tan). Thấm nhuần Phật Pháp, ACE chúng ta không tham đắm trước những vị ngọt của dục vọng, cũng không khổ đau trước những thử thách của Vô thường đến thường xuyên, của thế giới Ta Bà này. Chúng ta học tập đức hy sinh của Thầy, lòng tận tụy, thủy chung của Thầy đối với Tổ Chức: có mặt trong tổ chức từ những ngày đầu của những năm 40, trải qua những hoạn nạn của Đạo Pháp và Dân tộc của những năm 60, 70 rồi 80, 90 v.v.. Thầy vẫn đứng vững với Tổ chức, bảo trợ GĐPT từ trong nước ra đến Hải Ngoại, .… trong nhiều lảnh vực sinh hoạt, tu học; đúng là một trong những cội bồ đề của GĐPTVN xứng đáng cho tất cả ACE Huynh truởng GĐPT khắp nơi trên thế giới chúng ta ngưỡng mộ và yêu mến. Thưa Anh Chị Em, Trước giác linh của Thầy, chúng ta hãy cùng nhau hứa với Thầy, với nhau, luôn gắn bó với GĐPT, bảo vệ nội quy GĐPT bằng chính sự tu học và tu tập của bản thân mình, học hạnh Khiêm cung của Thầy, học đức Nhẫn nhục và Hạnh Buông Xả của Thầy, cuối đời Huynh trưởng Thầy đã thực hiện được ước nguyện “ly gia cắt ái” (xuất gia) để trở thành người tu sĩ và đã được thọ Đại giới trước khi lìa bỏ nhân gian đi về cõi Tịnh Độ. Vĩnh biệt Thầy Phổ Hòa, Anh Hồng Liên - Phan Cảnh Tuân kính yêu của GĐPTVN! Thân kính chúc Anh Chị Em một mùa Xuân trong Tâm _ dù đó là Mùa Xuân “vĩnh cửu” hay chỉ trong “khoảnh khắc” cũng đủ rồi: Tâm Xuân Vũ trụ Xuân Tâm Bình Thế giới Bình Trân trọng, BBT |
16/5/10
Câu Chuyện Dưới Cờ ngày 16/05/2010
Anh chị em Lam Viên thân mến!
Chúng ta hãy cùng nhau nhìn lên Kỳ Hiệu Sen Trắng, hết cả khung nền là màu xanh hy vọng khởi từ bây giờ và vươn lên tương lai mai sau một cách yên lành tươi mát. Ở giữa là hoa Sen Trắng bất nhiễm vươn lên từ ao tù bùn lầy nước đọng tanh hôi. Do đâu ta có được duyên lành kỳ ngộ kết hợp được những tinh hoa của đạo pháp thành biểu tượng diệu kỳ bày tỏ sự dấn thân của toàn thể Lam viên. Nếu không phải là chúng ta đã đặt đức tin SÁNG biểu hiện bằng màu trắng trên cơ sở ba báu quý là Phật - Pháp - Tăng, ba cánh dưới. Chúng ta nắm tay nhau thật chắc, nương tựa nhau một cách bền vững băng qua bầu trời đầy hiểm nạn bảo giông. Chúng ta không lý thuyết suông mà là trải nghiệm cuộc đời mình, sách tấn nhắc nhở bảo ban nhau đi sau bóng tăng già thạc đức trang nghiêm thanh tịnh và hòa hợp. Phải thời mà dở chân tiến bước, dừng lại tiến lên cùng với vết thăng trầm của lịch sử dân tộc và nhân loại. Nên trong bão chướng chúng ta có những căn lều vô hình để an trú. Trong mưa sa ta có tàn lọng để che thân.
Cuộc sống là vô cùng hữu hạn và ngắn ngủi chỉ bằng trong hơi thở. Lại phải ý thức rõ sống là sống cùng, sống với, không ai có thể tách rời vũ trụ nhân sinh mà tồn tại, nên ý thức tiêu diệt đấu tranh loại bỏ kẻ khác với bất cứ giá nào để tồn tại là sai lầm. Sự khát ngưỡng tìm cầu chơn thiện mỹ là điều nên làm và phải làm một cách trang trọng với tất cả một tấm lòng. Vấn pháp thọ pháp phải chân thành thiết tha mới làm cho đạo mạch thông lưu trong tư duy ý nghĩ và hành động thuần thiện chuyển hóa cả thân tâm hoàn cảnh và môi trường bởi nó cải chuyển cả chánh báo và y báo.
Trong kinh số 253 bộ Tạp A Hàm có ghi câu chuyện rằng:
Một hôm Tôn Giả Ưu Đà Di du hành trong nhân gian, vào buổi trưa đang ngồi thiền trong vườn Am La của nữ Bà La Môn Tỳ Cửu Ca Chiên Diên. Các đệ tử nhỏ tuổi của Tỳ Cửu thấy oai nghi của ngài sao mà hiền thiện cảm kính lân la lại gần làm quen. Ngài tùy thuận mà khai tâm điểm chỉ những chân lý cần gần trong cuộc sống khiến tất cả đều hoan hỷ trở về kể lại cho Tỳ Cửu nghe. Tỳ Cửu cho đệ tử tiếp cận ngài và thỉnh ngài ngày mai về đây thọ trai. Tôn giả yên lặng nhận lời. Sau khi thọ trai xong Tỳ Cửu đi giày vàng, Y phục gấm nhung, trùm đầu, mang ghế cao ngồi bên cạnh xin tôn giả thuyết pháp. Tôn giả bảo: chưa đúng thời và liền đứng dậy ra về. Liên tiếp trong ba ngày như vậy Tỳ Cửu tâm sự cùng đệ tử điều nầy, các đệ tử trẻ bạch thầy: Ngài Ưu Đà Di là người kỉnh pháp, thầy đi hài vàng, vận đồ sang ngồi trên ghế cao che khăn trùm đầu, tôn giả làm sao thuyết pháp được. Hôm sau, Tỳ Cửu cởi giày mở khăn, xách chiếc ghế thấp đảnh lễ vấn pháp. Ngài Ưu Đà Di tùy thuận vướng mắc của Tỳ Cửu mà thuyết pháp giải nghi từng phần thứ lớp khiến bà sáng đạo ý chứng được pháp nhãn thanh tịnh xin quy y và thọ trì năm giới suốt đời không vi phạm.
Anh chị em Lam Viên thương kính, tiền thân tổ chức Gia Đình Phật Tử là tổ chức Gia Đình Phật Hóa Phổ. Hóa Phổ có hai nghĩa là Hóa Nghi và Hóa Pháp. Hóa Nghi là đưa nghi thức Phật Giáo thâm nhập vào nền văn hóa luân lý dân tộc làm giàu và phong phú nền văn hóa đất nước có gần năm ngàn năm văn hiến nầy. Rồi sau đó dùng giáo lý nhà Phật hướng dẫn cho đại chúng một nhân sinh quan căn bản diệu ngọt.
Ta muốn biến trần gian thành Tịnh Độ, thì ít ra phải hướng dẫn cho đại chúng hiểu Tịnh độ là cái gì. Trong tâm thức có thế giới tịnh độ vi việt thì mới xây dựng trong nhân gian. Lý màu nằm ở chốn nầy mà hết lòng khát ngưỡng tìm cầu xây dựng và bảo vệ.
Thân ái cùng tất cả anh chị em./.
gdptthegioi.org
11/4/10
CÂU CHUYỆN DƯỚI CỜ
CẨN THẬN GIỮ MÌNH
Là Huynh Trưởng phải cẩn thận giữ mình từ lời ăn tiếng nói, từ tư duy, ý nghĩ đến hành động và việc làm. Bởi nghiệp ác đã tạo dù trong phút giây cũng theo ta như hình với bóng suốt cả một đời ảnh hưởng rất lớn nhất là trong sự nghiệp giáo dục của chúng ta.
Trong kinh TIỂU BỘ có câu chuyện số 202 nội dung kể lại rằng: Trong đệ tử của Phật có ngài Lakuntaka vừa lùn vừa nhỏ nhưng trí tuệ sáng suốt thần thông tự tại, biện tài vô ngại diệu ngọt. Tiếng lành đồn xa, một số tỳ kheo ở vùng quê nghe danh muốn lên xin phép Thế Tôn được nghe Tôn Giả giãng dạy. Khi họ đến cổng tịnh xá, thấy ngài họ ngỡ là Sa di nên kẻ nắm áo người kéo tay, nhéo tai bóp mũi, đối xử với tôn giã vô cùng thô lỗ. Khi thấy Thế Tôn từ hương phòng đi ra họ mới dừng trêu chọc và đi về phía Thế Tôn đãnh lễ ra mắt ngài và trình bày nguyện vọng được gặp Trưởng lão Lukuntaka. Phật dạy:
- Người mà các ông chọc ghẹo thô lỗ chính là Trưởng Lão Lukuntaka kẻ thuyết pháp vô cùng diệu ngọt trong tăng đoàn của ta.
- Bạch Thế Tôn, một kẻ thành tựu đại nguyện, đạt thiền chứng rốt ráo, thần thông tự tại cớ sao không có chút oai lực? Bậc đạo sư dạy:
- Vì tự mình đã làm các ác nghiệp.
Đại chúng ngơ ngác xin Thế tôn lân mẫn thương xót cần phải giải thích thêm. Phật kể lại chuyện xưa:
Trong quá khứ lâu xa tại nước Ba La Nại có một vị vua ác độc, rất ghét thú vật và người già lẫn cả đồ củ. Hể gặp các đối tượng ấy ông thường hành hạ cho đến chết và vức bỏ đi. Thuộc hạ của vua cũng bắt chước ngài thường hành ác hạnh ấy. Bởi thế chúng chư thiên tổn giảm. Sakka phải quán xét thế gian có điều chi bất ổn. Ngài bằng hóa hiện chiếc xe củ kỹ, đặt hai ghè sửa và thắng vào xe hai con bò già đằy sức mạnh chạy trước hai con voi sặc sở dõng mảnh của nhà vua và chỉ cho một mình nhà vua thấy. Còn Thiên chủ Sakka thì hóa làm một lão già rách rưới đánh xe. Vua thấy vậy hét lên bảo bắt lại, nhưng chẳng ai thấy gì cả. Còn chiếc xe bò thì dần dần bay lên khỏi mặt đất chạy trên không trung ngay trên đầu vua, rồi Đế Thích nghiêng ghè sửa cho chảy lên đầu vua ướt cả long bào, ướt cả voi đẹp. Vua chạy bất cứ đường nào chiếc xe bò cũng chạy trên đầu và cứ đổ sửa trên đầu vua thật là thê thảm. Khi đổ hết hai ghè sửa thì xe biến mất. Đế thích hiện nguyên hình đứng trên hư không, tay cầm chày Kim Cang quát:
- Tên vua ác độc kia! Mai sau ngươi không già hay sao mà làm khổ lụy bậc cha ông? Nếu ngươi không dừng lại và tu sửa bản thân, với chày kim cang nầy ta sẽ đánh nát óc ngươi. Nói xong Đế Thích biến mất. Vua sợ hãi toát mồ hôi, không còn độc ác như thế nữa.. Đến đây Phật xác nhận bản sanh. Vị vua ác hạnh là tiền thân của Trưởng lão Lakuntaka mà các ngươi rất ưa muốn nghe giảng dạy. SakKa là tiền thân của ta. Các Tỳ Kheo nghe đến đây đều chứng thánh quả.
Là Huynh Trưởng không thể nào quên, một khi quả đã dị thục thì thần thông như ngài Mục Kiền Liên còn phải nát thây trả quả, nên phải nghiêm cần giữ mình đó gọi là thân giáo vậy
Thân kính cùng tất cả anh chị em./.
BBT (www.gdptthegioi.org)
4/4/10
Câu chuyện dưới cờ
Thưa Anh Chị Em Huynh Trưởng bốn phương,
Những người học Phật đều cho rằng Kinh Kim Cang chỉ dành cho hàng tối thượng thừa, còn hạng Phật tử sơ cơ như Anh Chị Em chúng ta không thể nào tin và hiểu được. Điều này không được chính xác lắm, bằng cớ là ngày xưa đức Phật đã từng đem tinh thần Kim Cang ra giảng cho những thanh niên Bà La Môn để thuyết phục họ và ngài đã dùng chính giáo lý của Kinh Vệ Đà được coi là thánh kinh của Bà La Môn (và ngày nay ACE trại sinh Vạn Hạnh cũng đã từng học Kinh Kim Cang cùng với nhiều bộ Kinh Đại thừa khác. Nói tóm lại, khó hiểu hay dễ hiểu còn tùy theo cách truyền đạt, phải không thưa ACE?
Trở lại với buổi pháp đàm giữa đức Phật và chàng thanh niên Bà La Môn Sonnadanda (chúng ta gọi tắt là Sonna) và gần 500 vị Bà la môn tham dự. Sonna là một chàng thanh niên nổi tiếng là thông minh xuất chúng, con nhà giàu có, dòng dõi Bà La Môn, v.v.. hội đủ nhiều điều kiện để được mọi người ái mộ, nên khi nghe Sonna định đến viếng thăm đức Gotama, mọi người kéo nhau đi theo.
Khi Sonna chưa biết nên chọn đề tài gì để mở đầu câu chuyện thì đức Phật đã ân cần hỏi: _ Các vị học giả trong giới Bà La Môn, hãy cho chúng tôi biết những điều kiện thiết yếu để có thể thật sự là một người Bà la Môn chân chính? Các vị có thể dựa vào kinh điển Vệ Đà của quí vị.
“Được lời như cởi tấm lòng” vì kinh Vệ Đà là “tủ” của Sonna rồi, chàng đã thông thuộc và rành rõi nữa! Chàng trả lời ngay: Thưa Sa môn Gotama, 1 vị Bà La môn đích thực cần phải có đủ 5 điều kiện; đó là: 1. phải có dung mạo đẹp đẽ; 2. phải biết kỷ thuật xướng tụng và chú thuật; 3. phải có huyết thống thuần túy trong 7 đời; 4. phải có đức hạnh; 5. phải có tuệ giác.
Đức Phật hỏi: trong 5 điều kiện ấy, điều nào là căn bản? Còn điều nào dù là không có, người ấy vẫn có thể là một người Bà La Môn đích thực?
Sonna trả lời dần theo những câu hỏi của đức Phật, và đi đến kết luận 2 điều sau cùng là 2 điều kiện căn bản của một vị bà La Môn đích thực. Sonna đồng ý rằng cho dù một người không có dung mạo đẹp đẽ, không có huyết thống thuần túy trong 7 đời, không biết kỷ thuât xướng tụng và chú thuật nhưng có đức hạnh và trí tuệ thì người ấy vẫn có thể là một người Bà La Môn đích thực.
Những người Bà La Môn rất giận dữ, họ la ó phản đối Sonna đã bị đức Phật lung lạc bằng lý luận để đánh mất lập trường, chối bỏ điều kiện tiên quyết là điếu kiện về huyết thống, làm cho họ bị mất mặt ! J J !!
Đức Phật trấn an đám đông: _ này quí vị quan khách, nếu quí vị có lòng tin nơi người lảnh đạo của quí vị là Sonna thì quí vị hãy im lặng để tôi tiếp tục đối thoại với ông ta; nếu quí vị không có lòng tin ở ông ta thì quí vị yêu cấu ông ta im lặng để tôi nói chuyện với quí vị.
Mọi người im lặng, Sonna lên tiếng: Xin Sa môn Gotama yên tâm, cho tôi xin có vài lời với các bạn của tôi! Rồi hướng về đại chúng, Sonna nói tiếp:
“Các bạn có thấy cháu của tôi là Angaka ngồi ở kia không? Angaka là một thanh niên khôi ngô tuấn tú, dung mạo đẹp đẽ , không ai trong chúng ta so sánh được. Angaka lại thông hiểu tất cả nghĩa lý ba bộ kinh Vệ Đà, thông thạo kỷ thuật xướng tụng, chú thuật và có huyết thống 7 đời bên cha cũng như bên mẹ v.v.. như mọi người đều đã biết, nghĩa là có đầy đủ 3 điều trên. Nhưng giả thử Angaka sát sinh, trộm cứơp, tà dâm, nói dối v.v.. thì dung mạo tốt đẹp có còn giá trị không? kiến thức về kinh Vệ Đà và kỷ thuật xướng tụng cũng như Chú thuật còn có ý nghĩa và ích lợi gì nữa? Thưa các bạn, vì vậy, 2 điều kiện căn bản của một người Bà La Môn đích thực chính là Đức Hạnh và Tuệ Giác. Đây là sự Thật chung cho tất cả chúng ta chứ không phải sự Thật riêng của Sa Môn Gotama.”
Tiếng hoan hô vang dậy, đức Phật chờ cho đại chúng im lặng mới hỏi Sonna: Nhưng trong 2 điều kiện còn lại, chúng có thể bỏ bớt một điếu để chỉ giữ lại 1 điều hay không?
Sonna đáp: thưa Sa môn Gotama, không thể được; nhờ giới hạnh nghiêm minh mà tuệ giác phát triễn, nhờ tuệ giác phát triễn giới hạnh càng trang nghiêm; hai thứ này nâng đỡ và phát triễn lẫn nhau
Đức Phật khen: Hay lắm, Sonnadanda! Những điều ông nói chính là sự thật; Giới hạnh và Trí tuệ là hai thứ quý nhất trên đời mà một người có thể dùng làm đồ trang sức thanh tịnh nhất, cao quí nhất cho Thân và Tâm mình.
Thưa ACE,
Có phải trong buổi pháp đàm này chúng ta đã học được 1 bài kệ Kim Cang dưới hình thức khác hay không?
Nếu dùng sắc để thấy (dung mạo đẹp đẽ)
Dùng âm thanh để nghe (kỷ thuật xướng tụng)
Dùng tướng bề ngoài để đánh giá (huyết thống 7 đời ..)
Thì đó không phải đích thực là Bà la môn!
Vì các pháp hữu vi đều là hư dối!
Thân kính chúc ACE tinh tấn trau giồi, phát triễn Giới Đức và Trí Tuệ. Đây không chỉ là công việc trong đời này mà còn có thể kéo dài trong nhiều đời nhiều kiếp khác.
Trân trọng,
BBT
21/3/10
Câu Chuyện Dưới Cờ ngày 20/03/2010
Thưa Anh Chị Em Huynh trưởng bốn phương,
Câu chuyện xảy ra giữa đại dương bao la: một hôm có con sóng nhỏ cảm thấy phiền não vì kích thước quá nhỏ bé của mình. Nó nhìn ra xa, một con sóng lớn gấp mấy lần nó, ngạo nghễ đánh vào bờ rồi hùng dũng kéo ra; nó thở dài buồn bã: tại sao mình nhỏ bé thế này? Tại sao tôi không được to lớn như bạn hả?
Con sóng lớn đáp: Tại vì bạn không chịu nhìn kỹ gốc gác của mình nên bạn mới phiền não như vậy! Thật ra, Bạn đâu có phải là con sóng nhỏ, tôi cũng đâu phải là con sóng lớn?
Con sóng nhỏ ngạc nhiên: Ô hay, bạn nói lạ chưa? Bạn với tôi không phải là sóng thì là cái gì?
Sóng lớn trả lời: Bạn với tôi đều là nước; sóng chỉ là một hình thức của nước. Nếu mình nhìn ra bản chất của mình, gốc rễ của mình, không chấp chặt vào hình thức bên ngoài, cái vỏ bọc bên ngoài, thì mình sẽ không còn mặc cảm tự tôn hay tự ti, không còn phiền não khổ đau nữa.
Con sóng nhỏ chợt “ngộ” ra chân lý ấy và cảm ơn bạn sóng lớn đã mở con mắt tuệ cho nó.
Cũng vậy, tất cả chúng ta đều thích hướng ngoại, tìm cầu, so sánh với nguời này, hơn thua với người khác, vĩ đại hơn thì bay lên không gian để khám phá phía bên kia mặt trăng, sao Hỏa hay dưới đáy đại dương v.v.. Nhưng chúng ta lại không có hứng thú khám phá những chiều sâu tiềm ẩn bên trong chúng ta. Cách đây không lâu, nguời ta phỏng vấn một phi hành gia không gian không theo đuổi nghề nghiệp của mình nữa _ được hỏi tại sao lại bỏ nghề thì ông trả lời rằng: “sau khi du hành vũ trụ, được lên mặt trăng, tôi đã chứng kiến được thế nào là không gian bao la nhưng tôi nghĩ rằng lòng người còn sâu hơn rộng hơn những gì tôi được kinh nghiệm qua những cuộc du hành trong vũ trụ; vì thế tôi muốn tự chiêm nghiệm, khám phá những chiều sâu bên trong chính tâm hồn tôi”
Thưa Anh Chị Em,
Thật đúng vậy, vũ trụ chỉ thực sự hiện hữu cho chúng ta khi và chỉ khi chúng ta kinh nghiệm được nó qua Thân và Tâm của chính mình, Vũ trụ không phải chỉ là vùng trời bao la xanh thẳm trên cao kia, mà nó ở ngay trong lòng chúng ta và ở ngay trong giây phút hiện tại. Khi chúng ta trở về với vũ trụ bên trong, chúng ta sẽ thấy chúng ta và mọi người cùng một bản thể _ bất cứ con người ngũ uẩn nào cũng tiềm ẩn Phật tánh bên trong _ Muốn làm hiển lộ Phật tánh ấy, chúng ta cần một đời sống đạo đức _ nghĩa là một đời sống tôn giáo đích thực: đó là một đời sống thanh tịnh, trong bình yên và hòa hợp với bản thân và đem lại sự bình yên và hòa hợp cho tha nhân. Đối với anh chị em chúng ta, có một cuộc sống đạo đức với một cái Tâm được khéo kiểm soát và khép vào giới luật, với tấm lòng trong sạch luôn hăng say với từ ái và bi mẫn, đó chính là mục đích của TU. Một con người như vậy thật là một viên ngọc quí dù ở xã hội nào, giai cấp nào, nam hay nữ, giàu hay nghèo, có học thức cao hay không biết chữ v.v.. Đó chính là viên ngọc quí giấu trong chéo áo của “người cùng tử” trong kinh Pháp Hoa … Tất cả chúng ta đều nổ lực, tinh tấn làm hiển lộ Phật tánh, viên ngọc minh châu vô giá ấy,
Thân kính chúc Anh Chị Em vô lượng an lạc.
BBT (gdptthegioi.org)
14/3/10
Câu Chuyện Dưới Cờ ngày 14/03/2010
Thưa Anh Chị Em Huynh trưởng bốn phương,
Mỗi khi trong đơn vị, trong tập thể có sự hiểu lầm, có sự báo cáo sai lệch vì hiểu lầm, rồi sau đó là giận hờn, không làm việc v..v.. chúng ta đều nghĩ rằng chúng ta thiếu phước, hay là thời mạt pháp .. xui ra đủ thứ chuyện. Thật ra, nguyên nhân không phải do bên ngoài mà do chính tự trong tâm ta. Thời Phật còn tại thế, các Thầy tỳ kheo cũng có khi hiểu lầm nhau, thậm chí tôn giả Xá Lợi Phất còn có khi bị hiểu lầm, kết tội v.v. nữa là! Thế nhưng sau những lần như vậy, ai nấy đều biết phục thiện, đều nhận ra lỗi mình, đều thành tâm sám hối chứ không cố chấp, ngang bướng, sân si hoài như ACE chúng ta! !!
Chúng ta hình dung Tăng đoàn thời đức Phật, đông biết bao nhiêu, cùng nhau ở chung trong 1 tịnh xá, có khi ngủ trong rừng, có khi trong tịnh xá… nhưng nhất cử nhất động đều được ghi nhận bởi các bạn đồng tu. Có một thầy Tỳ kheo tên là Baddhiya, trước khi trở thành đệ tử Phật ông ta là 1 vị quan tổng trấn nổi tiếng 1 vùng; ông ta cũng là 1 người trong hoàng tộc của dòng họ Sakya. Sau khi xuất gia, ông tu hành rất tinh tấn, thường tu thiền trong rừng, chứ không ngủ tại tịnh xá và đời sống tu hành rất thích hợp với 1 quân nhân như ông. Một đêm kia, trong lúc thiền toạ, ông cảm thấy 1 niềm an lạc vô biên mà ông chưa bao giờ cảm nhận được trong thời gian còn ở nhà, ông bất chợt la to lên: ôi hạnh phúc, ôi hạnh phúc!
Lúc ấy đêm đã khuya, có một vị khất sĩ ngồi thiền tọa cách đó không xa, đã nghe được những tiếng ấy; sáng hôm sau, vị khất sĩ đến gặp đức Phật và thưa rằng: Thế Tôn! hồi khuya, trong lúc thiền tập, con nghe khất sĩ Baddhiya kêu lên 2 lần “ôi hạnh phúc” _ con nghĩ thầy ấy không thích hợp với đời sống xuất gia vì đang còn nuối tiếc những xa hoa giàu sang hạnh phúc của cuộc đời cư sĩ. Con xin trình bày để Thế Tôn biết và định liệu.
Buổi trưa, sau khi Tăng đoàn thọ trai và đức Phật thuyết pháp cho đại chúng xong thì gọi đại đức Baddhiya ra trình diện. Đức Phật hỏi:
_ Baddhiya, hồi khuya trong khi thiền tọa thầy có la to lên “ôi hạnh phúc! ôi hạnh phúc” Có đúng như vậy không?
_ Bạch Thế Tôn, quả thật đúng như vậy!
_ Tại sao? thầy hãy trình bày cho đại chúng cùng nghe
_ Thế tôn! Ngày trước con làm tổng trấn, sống cuộc đời giàu sang quyền quí, đi đâu cũng có 1 đội binh đi theo hầu cận và bảo vệ; dinh phủ của con thì lính gác ngày đêm, vậy mà lúc nào con cũng lo lắng, sợ mất an ninh, … giờ đây ngồi 1 mình trong rừng vắng, giữa đêm khuya, vậy mà con không hề sợ hãi hay nghi ngại một điều gì cả, con cảm thấy 1 niềm an lạc, thảnh thơi chưa từng có trong đời. Thế Tôn! đời sống xuất gia thật tuyệt vời, bây giờ con không còn sợ ai, không sợ cái gì nữa, con không có cái gì để sợ mất, con sống tự do vui thú như một con nai trong rừng; vì thế con không tự chủ được, buột miệng la lớn “ôi hạnh phúc, ôi hạnh phúc” làm kinh động đến Thế Tôn và các bạn đồng tu; con xin thành tâm sám hối.
Đức Phật khen ngợi Baddhiya trước đại chúng, ngài nói:
_ Hay lắm, Thầy Baddhiya! Thầy đang đi những bước vững chãi trên con đường tự tại và vô úy. Ngay cả chư Thiên cũng còn mong ước được như vậy, huống nữa là loài người trong cõi Ta bà này.
Như thế đó, đức Phật đã giải toả được sự hiểu lầm của người bạn đồng tu với Baddhiya và để Baddhiya có cơ hội giải thích với đại chúng lý do “làm ồn ào trong đêm khuya” của mình.
Thân kính chúc Anh Chị Em một ngày cuối tuần an lạc và thảnh thơi,
Trân trọng,
BBT
theo (www.gdptthegioi.org)
8/3/10
Câu Chuyện Dưới Cờ ngày 07/03/2010
Thưa Anh Chị Em Huynh Trưởng bốn phương,
Chúng ta còn nhớ rõ, khi đức Đạt lai Lạt ma 14 đến nhận giải Nobel hoà bình, Ngài được hỏi rằng: người Trung Hoa tàn ác với dân Tây tạng, đàn áp dã man nhân dân Tây tạng của ngài mà tại sao ngài không thù oán người Trung hoa? đức Đạt lai Lạt ma 14 trả lời: nhà cầm quyền cộng sản Trung Hoa đã cướp mất hết tất cả các quyền tự do của chúng tôi, không lẽ bây giờ lại để cho họ cướp luôn lòng từ bi của chúng tôi sao? vì vậy tôi không để tâm oán thù làm chủ mình.
Thưa Anh Chị Em,
Nói cách khác, đức Đạt lai Lạt ma 14 làm chủ được tâm mình, làm chủ được những tình cảm vui buồn, thương yêu, giận ghét … của mình; nghĩa là nắm được chìa khóa hạnh phúc và an lạc của mình, không để cho người khác có thể điều khiển những vui buồn của mình. Trong Tâm của tất cả chúng ta cũng vậy, mỗi người đều có chiếc chìa khóa ấy, nhưng có người không biết giữ mà đem giao cho người khác giữ. Ví dụ người phụ nữ kia, luôn than phiền về ông chồng của mình anh ta đi chơi, đi ăn nhậu với bạn bè từ sáng tới tối, ít khi có nhà, tôi thật là buồn khổ quá ! _ Chị ấy đã giao chìa khóa hạnh phúc cho ông chồng ích kỷ! Còn anh thanh niên kia, suốt ngày cứ lo lắng “ông chủ khó tính làm sao thỏa mãn yêu cầu của ông, lâu quá rồi mà không thăng chức cho tôi, không tăng lương cho tôi, tinh thần tôi xuống quá rồi …” anh này lại trao chìa khóa hạnh phúc của mình cho ông chủ ! Bà cụ kia thì than thở: “sao con dâu của tôi nó hành hạ thằng con trai của tôi làm tôi khổ quá thế này !” bà này lại giao chìa khóa niềm vui, sự an lạc của mình cho cô con dâu mà không tự biết!!
Thế đấy, chúng ta thường trách móc, than phiền người khác, xem như nỗi bất hạnh của mình là do người khác, bởi người khác, tại người khác mà ra _ nếu không có người ấy, chúng ta sẽ hạnh phúc hơn !! Đó chính là do chúng ta không tự tin ở chính mình, luôn phụ thuộc vào người khác, làm như phải nhờ họ chúng ta mới được vui, được hạnh phúc vậy! Những người như vậy, cho dù họ giàu sang quyền lực đến đâu, họ cũng chỉ là những kẻ yếu đuối, những thân cây tầm gửi, sống bám vào những người chung quanh, những người có ảnh hưởng lên sự vui buồn của mình, những người “nắm giữ chìa khóa hạnh phúc” của mình.
Khi thực hành đạo giải thoát, anh chị em Huynh trưởng chúng ta phải luôn tự tin ở khả năng tự đem lại an lạc cho mình, ngoài ra còn đem niềm vui đến cho người chung quanh nữa (thế mới xứng đáng với lời hứa: “sáng cho người thêm niềm vui, chiều giúp người bớt khổ” chứ!); chúng ta nương tựa vào đâu? _ Vào hải đảo tự thân đó các bạn nhớ không?
Quay về nương tựa
Hải đảo tự thân
Chánh niệm là Phật
Soi sáng xa gần
Hơi thở là Pháp
Nhiếp hộ thân tâm
Năm uẩn là Tăng
Phối hợp tinh cần
…..
Những người ỷ lại vào người khác, hay than phiền trách móc … thì không phải là Huynh trưởng Gia Đình Phật Tử vì người Huynh trưởng còn có đàn em phải quan tâm chăm sóc, dạy bảo, hướng dẫn chứ đâu thể nào đổ trách nhiệm cho đàn em mình được. Nếu có ai trong Anh Chị Em chúng ta _ trong một lúc mất tỉnh giác, đã để chìa khóa an lạc + hạnh phúc của mình vào tay một ai đó thì hãy nhanh chóng đòi lại đi nha!
Thân kính chúc Anh Chị Em “một ngày như mọi ngày” an lạc và thảnh thơi.
Trân trọng,
BBT
28/2/10
Câu Chuyện Dưới Cờ ngày 28/02/2010
Anh chị em Lam Viên thân mến!
Gia Đình Phật Tử Việt Nam là một tổ chức Giáo dục nên tinh thần “Tôn sư trọng đạo” “Tri ân và báo ân” được đưa lên hàng đầu. Kỷ yếu đặc san, nội san ghi lại nhiều mẩu chuyện làm xúc động bao người. Phải biết trong học tập tuổi trẻ phải tiếp thu nâng cao và hoàn thiện chính mình mới có thể duy trì và phát triển xã hội ngày một văn minh và tiến bộ hơn. Đó là trách nhiệm là nghĩa vụ là sứ mạng nhưng không có nghĩa là phải dẫm đạp lên các thế hệ cha anh với bất cứ giá nào. Tài năng mà tách rời đạo thống thì rõ thật không thể phục vụ nhân sinh, mất tính nhân bản và làm lụn tàn nền văn hóa đạo đức của con người.
Trong kinh Tiểu Bộ có ghi câu chuyện rằng:
Ngày xưa ở thành Ba La Nại có một nhạc sĩ tài ba tên là Guttila, độc thân hiếu thảo ngày đêm phụng dưỡng cha mẹ mù lòa. Một ngày có lễ hội tại địa phương kia có nhóm thương nhân qua đây họ thuê nhạc sĩ Musila chơi đàn Tỳ Bà. Nhưng chơi với dây căng dây vừa và dây chùng Thính giả không ai thấy thích thú. Họ bảo nhạc sĩ Musila: Ông đừng buồn, vì đến giờ họ chưa thấy ai chơi đàn bằng Guttila. Musila trả tiền lại cho các thương nhân và bảo rằng khi các ông đi về xin cho tôi đi theo đến nhà người nhạc sĩ tài ba ấy. Họ đồng ý đưa Musila đến nhà Guttila rồi bỏ đi. Musila vào nhà thấy cây đàn treo trên vách. Trong nhà chỉ có vợ chồng lão già mù. Musila lấy cây đàn xuống và chơi thử. Ông bà già cứ ngỡ là chuột gặm cây đàn nên la đuổi. Musila để đàn xuống và chào ông bà. Sau khi chuyện trò mới biết là Guttila đi vắng chốc nữa mới về.
Khi Guttila về Musila mới bày tỏ mình muốn học đàn. Guttila không thuận nhưng cha mẹ anh có khuyên và xin giúp nên anh mới thuận cho. Một thời gian sau anh đã thông thạo và muốn phục vụ nhà vua. Nhà Vua đồng ý nhưng chỉ trả công cho anh không bằng nửa công Guttila. Anh đòi Vua phải trả bằng công thầy mình. Bởi tài nghệ của anh hiện giờ không kém thầy chút nào. Nhà vua hỏi anh có muốn tranh tài với thầy anh không. Anh bảo muốn. Guttila là người chân chánh truyền nghề cho học trò không hề dấu diếm bí quyết, nên rất lo âu. Ghế trời Đế Thích rung lên. Ngài liền quán Thế Gian và biết hết mọi sự, mới mách nước cho nhạc sĩ rằng: Cứ đánh xong một bản ông cắt bớt một dây đàn cho đến khi cắt hết dây đàn. Người học trò sẽ không xoay sở nỗi. Ngoài ra Đế Thích còn cho thầy ba chiếc đủa để khi thầy tung chiếc đủa các thiên nữ sẽ múa minh họa làm say đắm lòng người. Đến ngày thi đấu khán phòng chật ních người. Đế Thích và Thiên nữ ẩn hình trên không hỗ trợ. chỉ có mỗi mình Guttila trông thấy mà thôi.
Phần một không có gì ai chơi cũng tốt thính chúng đều dốc lòng ca ngợi. Phần hai Guttila cắt đứt từng dây đàn một cho đến khi đàn không còn dây mà đàn vẫn kêu ra tiếng mỗi lúc một vi diệu hơn. Musila không làm được. Thính phòng như nghẹt thở. Đúng lúc ấy Guttila ném một chiếc đủa, hai chiếc đủa, ba chiếc đủa. Người đẹp từ thiên cung xuất hiện đẹp đến nỗi ai cũng ngẫn ngơ xưa nay chưa từng thấy. Tán thưởng Guttila bao nhiêu người ta phẩn nộ Musila không biết khiêm tốn tráo trở muốn quên ơn thầy nên họ tiến lên bắt Musila và đánh đá kẻ vong ân đến chết. Các tiên nữ muốn nghe hết bài ca phải kể mỗi người một câu chuyện thiện nghiệp. Dân chúng reo hò vì các nàng kể chuyện quá hay. Đế Thích thì thưởng cho Guttila một chiếc xe ngàn ngựa thần kéo có thể dạo chơi thiên giới.
Tài năng và đạo đức làm nở hoa hạnh phúc và là sự huyền nhiệm của cuộc sống muôn đời của trời người. Hãy trân trọng và giữ gìn.
Thân ái cùng tất cả anh chị em./.
BBT
21/2/10
Câu Chuyện Dưới Cờ ngày 21/02/2010
Thưa Anh Chị Em Huynh trưởng bốn phương,
Trong phẩm Tịnh Hạnh của Kinh Hoa Nghiêm, Bồ tát Văn Thù dạy chúng ta sửa đổi cách nhìn, nghĩa là sửa đổi những phản ứng của mình trước những hoàn cảnh. Hễ mắt nhìn thấy cái gì thì óc lập tức phản xạ, liên kết với những dữ kiện đã sẵn có … ví dụ thấy con rắn, lập tức nhảy ra xa, thấy xe chạy lại phía mình thì tránh v.v.. đó là những phản xạ tự nhiên về thân. Còn có những phản xạ tâm linh quan trọng hơn như gặp người mình ngưởng mộ, yêu mến … thì tim đập mạnh, cảm giác khoan khoái nhẹ nhàng, trái lại, gặp người không ưa hay chán ghét thì cảm thấy khó chịu, băng hăng bó hó, căng thẳng Nói tóm lại, nếu chúng ta không biết điều chỉnh cái nhìn trở nên vô tư, bỏ ra ngoài sự yêu – ghét, lấy - bỏ thì chúng ta sẽ phiền não đau khổ do khó chịu hay căng thẳng (là stress đó !) của chính mình gây ra.
Như vậy, từ khi mở mắt ra đón chào một ngày mới cho đến khi nằm xuống giường để ngủ, chúng ta tiếp xúc với muôn ngàn cảnh sắc của cuộc đời, và có bấy nhiêu phản ứng, chúng ta phải làm sao để những phản ứng ấy đem lại an lạc cho mình và cho người chứ đừng để đưa đến phiền não, bệnh hoạn. Chúng ta đã từng dạy cho đàn em của mình những bài thi kệ nói lên lời nguyện vị tha của mình, ví dụ:
Múc nước để rửa tay
Xin nguyện cho mọi người
Có đôi bàn tay sạch
Gìn giữ trái đất này
Phần chúng ta, còn tiếp xúc với những cảnh sắc phức tạp hơn ví dụ như “ngũ dục” _ là đối tượng của dục vọng, tiền bạc, tửu sắc, hưởng thụ v..v.. và bài kệ chúng ta đã được đọc trong phẩm Tịnh Hạnh là:
Được hưởng ngũ dục,
Nguyện rằng chúng sanh
Nhổ mủi tên độc
Cứu cánh yên ổn
Đây chính là vấn đề rất thường nhưng rất đáng cho Anh Chị Em chúng ta suy gẫm quán chiếu để soi rọi lại mình từng ngày, từng giờ hay có thể từng giây phút … Thật vậy, đặc tính của ngũ dục là khiến người ta nghiện ngập, chìm đắm trong đó; chúng ta cũng không ngây thơ mà nghĩ rằng chỉ có rượu hay ma túy mới làm người ta nghiện ngập; mà danh vọng, địa vị, sắc đẹp, cờ bạc ..., cũng làm ngưòi ta say đắm và có thể nhận chìm người ta trong biển trụy lạc, thân bại danh liệt trong khoảnh khắc. Điều này đâu cần chứng minh _ vì sử sách có đầy ra cả, không chỉ ở phương Tây mà chúng ta gọi là xã hội văn minh vật chất, ngay cả ở phương Đông cổ kính cũng vậy thôi!
Thưa Anh Chị Em,
Chính vì thế mà đức Phật đã dạy: “Ngũ dục là gốc rễ của địa ngục đọa lạc, giống như mũi tên độc đã ngấm vào da thịt, khó nhổ cho ra, và dù có nhổ ra được thì đau đớn biết bao nhiêu và chất độc đã ngấm vào cơ thể rồi” ! Chúng ta, người Huynh trưỏng Gia Đình Phật Tử có lẽ ít ai “chết” vì danh, sắc, ăn uống, nhậu nhẹt … vì ít nhiều chúng ta cũng có sự tu tập không nhiều thì ít, nhưng chúng ta_nhất là nam Huynh trưởng_lại vướng vào vòng cờ bạc rất dễ dàng. Thật vậy, cả trong nước lẫn hải ngoại, thật đúng là chuyện khó tin mà có thật, phải không các bạn?
Như đã nói, cờ bạc mà kiểu mạc chược hay tổ tôm hay xì tố hay “chơi số đề” v.v.. là quá xưa rồi; cờ bạc của thế kỷ 21 không chỉ là casino hay “đại thế giới hiện đại”, cờ bạc hôm nay là cá độ, cá con ngựa nào hay nhất, cá đội bóng nào thắng, cá nước nào được nhiều huy chương vàng nhất trong kỳ Olympic này v.v.. thôi thì muôn ngàn hình thức cờ bạc _ sát phạt nhau đến nỗi phải tan gia bại sản _
Tất nhiên, hiện tượng này không phổ biến, vì được giấu rất kỹ, chỉ có những người đồng hội đồng thuyền mới biết thôi! Tuy nhiên, chúng ta thử nghĩ xem, nếu 1 ngày nào đó, có 1 Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử _ dù trong nước hay ở hải ngoại _ bị phá sản vì cờ bạc, hay bị kiện tụng vì những lý do “ngũ dục” thì đâu phải 1 mình Huynh trưỏng ấy, mà cả tập thể chúng ta đều phải cúi đầu xấu hổ, và làm sao trả lời trước đàn em của chúng ta? _ xin thưa, rất may, mọi việc đều chỉ đang là một chuyện giả tưởng do mấy chữ “ngũ dục” gợi ra ! !!
Vì vậy chúng ta hãy hết sức tỉnh giác và giữ tâm thanh tịnh, quán chiếu về giới thứ 5 (Không uống rượu) để tránh xa tất cả những thứ gì vật chất hay tinh thần, có thể làm chúng ta say sưa (“ghiền”) đến nỗi quên hết bổn phận, mất khả năng lý luận, phán đoán … rồi lạc mất hướng đi !
Mong lắm thay!
Trân trọng,
BBT
31/1/10
Câu Chuyện Dưới Cờ ngày 31/01/2010
Mỗi khi chúng ta đi thiền hành, vị thầy hướng dẫn luôn nhắc nhở phải bước những bước chân vững chãi, tỉnh thức, như bước đi của đức Phật v..v..
Ở những nơi ghi lại các thánh tích, chúng ta cũng thấy hình những bước chân Phật để kỷ niệm sự việc Thái Tử Tất Đạt Đa (Bồ tát Hộ Minh) khi giáng trần, đã đi 7 bước trên hoa sen.
Hôm nay anh chị em chúng ta cùng nhau ôn lại 7 bước này để làm đề tài quán chiếu của mình trong 7 ngày của tuần lễ nha!
Kinh kể lại rằng khi mới xuất hiện trong cõi Ta Bà này, cậu bé thái tử Tất Đạt Đa bước 7 bước thật vững chãi, và trong mỗi bước chân, ngài lại nhìn vào một hướng (phương) để xác nhận sự hiện diện của mình trong thế giới này.
Bước Chân thứ nhất, ngài nhìn về phương Đông và nói: “vì chúng sanh mà ta làm bậc đạo sư.” Phương Đông là phương mặt trời mọc, tượng trưng cho trí tuệ, cho nguồn nămg lượng vĩ đại nuôi dưỡng và sưởi ấm muôn loài. Cũng vậy, Bồ tát xuất hiện để làm Phật, đem nguồn tuệ giác soi đường cho chúng sanh, khai thị cho chúng sanh thấy được Phật tánh trong mỗi người. Như vậy bước chân thứ nhất là bước chân của bậc Đạo Sư đầy đủ trí đức.
Bước chân thứ hai, ngài nhìn về phương Nam và nói: “vì hết thảy chúng sanh mà ta làm ruộng phước.” Ruộng, đất là nền tảng vững chắc, nơi chúng sanh làm nhà để ở, gieo trồng lúa gạo, cây trái v..v.. để nuôi thân. Cũng vậy, Bồ tát xuất hiện làm Phật, làm mảnh đất, mảnh ruộng để chúng sanh có nơi nương tựa, gieo trồng và vun xới những hạt giống từ bi, trí tuệ, mai sau gặt được những hoa trái giác ngộ, giải thoát. Phương Nam là biểu tượng của Trung Đạo (ở giữa Đông và Tây) hay là chánh trực. Trung đạo như chúng ta đã biết, đó là không rơi vào hai cực đoan, ví dụ về phương diện tu tập không rơi vào ép xác khổ hạnh, cũng không bị cuốn vào phóng dật, buông thả… Như vậy, bước chân thứ hai của ngài là bước chân phước điền đầy ân đức, nuôi lớn những hành vi tốt đẹp, thiện lành của chúng sanh.
Bước chân thứ ba, ngài nhìn về phương Tây và nói: “vì hết thảy chúng sanh, thân này là thân sau cùng.” Phương Tây là phương mặt trời lặn, đối với chúng sanh trên mặt đất này thì mặt trời mọc ở phương Đông, lặn ở phương Tây nên phương Tây là điểm kết thúc của 1 hành trình, chu kỳ của 1 ngày. Đó chính là nơi gặt hái những hoa trái thơm ngon của cõi Cực Lạc, (cõi Tịnh Độ) khi, suốt hành trình, công phu niệm Phật “nhất tâm bất loạn” được thành tựu viên mãn. Cũng vậy, Bồ tát bằng đại hạnh và đại nguyện của mình, trong quá trình tu tập, vượt thắng tất cả chướng ma để kết thúc vòng luân hồi sinh tử. Như vậy, bước chân thứ ba của ngài là bước chân của thân cuối cùng trong sinh tử luân hồi, còn gọi là bước chân đoạn đức _ bước chân đã đoạn tận tất cả những phiền não, ô nhiễm để đạt Niết bàn hay Cực Lạc.
Bước chân thứ tư, ngài nhìn về phương Bắc và nói: “vì hết thảy chúng sanh mà ta thành tựu Giác ngộ vô thượng”. Phương Bắc là giao tuyến của Đông và Tây, giữa sáng và tối, giữa ngày và đêm, giữa sinh tử và niết bàn. Cũng vậy Bồ tát vì đại nguyện cứu độ chúng sanh, thị hiện vào cõi Ta Bà, bóng đêm của sinh tử, tinh tấn tu tập để thành tựu Đạo Giác ngộ Vô thượng, nghĩa là từ bóng đêm sinh tử bước ra vùng ánh sáng của trí tuệ và từ bi. Như vậy, bước chân thứ tư là bước chân của đại nguyện.
Bước chân thứ năm, nhìn xuống phương Dưới, ngài nói: “vì hết thảy chúng sanh mà tận diệt 10 đạo quân của ma vương” Chúng ta đã biết “ma” là tất cả những chướng ngại ngăn chận sự tu tập, chúng ở ngay trong tâm ta, chúng là những hạt giống bất thiện trong ta (là chấp ngã, là thành kiến v..v..) Phương Dưới là biểu tượng của những sự thấp hèn, kém cỏi, xấu ác về thân, lời, ý…. Cho nên Bồ tát xuất hiện trong cuộc đời dùng gươm bén của trí tuệ chặt đứt tất cả ma phiền não để cứu độ chúng sanh. Như vậy bước thứ năm là đại phá ma quân hay là tuệ đức.
Bước chân thứ sáu, nhìn lên phương Trên, ngài nói: “vì hết thảy chúng sanh mà làm nơi nương tựa cho thế giới Trời, Người” Phương Trên là biểu tượng của những gì cao quí, thiện lành… hai loại chúng sanh “cao nhất” trong lục đạo là Trời và Người. Cho nên Bồ tát thị hiện ra đời để cứu những chúng sanh đó; vì tuy ở “cao” hơn, có nhiều phước báo hơn, nhưng vẫn còn tham sân si nên vẫn còn có thể bị đọa nếu không lo tu tập. Như vậy bước chân thứ sáu là bước chân nhân thiên qui kính còn gọi là bước chân đại đức.
Bước chân thứ bảy, chúng ta đã nhớ rồi, đó là bước chân cuối cùng, một tay chỉ lên trời, 1 tay chỉ xuống đất, ngài nói “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn” câu nói bất hủ và cũng là đề tài bất tận của những nhà học giả nghiên cứu đạo Phật _ chưa ai giải thích thỏa đáng cho tất cả mọi người. Nói xong câu này, có 2 dòng nước nóng và lạnh phun ra tắm cho ngài, sau đó ngài trở lại như những em bé bình thưòng (chưa biết đi, chưa biết nói)
Thưa Anh Chị Em,
Như thế đó, là 7 bước của đức Phật. Chúng ta, với danh nghĩa là con Phật, là Huynh trưởng GĐPT, chúng ta cũng phải thực tập những bước chân như vậy, những bước chân của Đại Bi, Đại Trí, Đại Hùng, Đại Lực, Đại Nguyện v..v.. và TIN rằng chúng ta cũng bước được những bước vững chải, thảnh thơi như Đức Phật vậy, chúng ta phải duy trì niềm tin ấy, để nó luôn có mặt mỗi khi ta cất bứơc… Đến một lúc nào đó, 7 bước chân sẽ được thuần hoá, và kiên định, “thường trú” trong tâm ta. Và như vậy đức Phật không chỉ có mặt trong ta (dưới hình thức Phật tánh) mà còn có mặt trong mỗi bước chân của chúng ta.
Thân kính chúc Anh Chị Em tinh tấn tu tập pháp môn “từng bước nở hoa sen” với 7 bước chân của đức Phật.
Trân trọng,
BBT
http://www.gdptthegioi.org
24/1/10
Câu Chuyện Dưới Cờ ngày 24/01/2010
17/1/10
Câu Chuyện Dưới Cờ
Anh chị em Lam viên thân mến!
Mười phương ba đời chư Phật đều từ quả vị Bồ Tát Nhất Sanh bổ xứ mà xuất sanh. Chư vị Bồ Tát nhất sanh đều khởi Đại Từ Bi tâm mà thành tựu. Để thể hiện tâm Đại Từ Bi và nuôi dưỡng thánh thai Bồ Tát không gì bằng hạnh Bố Thí.
Bố Thí dẫn sanh trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ đến bờ giác thuật ngữ nhà Phật gọi là Ba La Mật. Việc tu hành không thể một sớm một chiều là có kết quả ngay nhưng với sự tinh cần không mệt mỏi thành công nắm chắc trong tầm tay. Để minh họa chư luận cứ trên trong kinh Bản Sự có câu chuyện tiền thân của Phật như sau:
Trong quá khứ lâu xa, tiền thân của đức Bổn sư là một thầy thuốc giỏi. Chúng sanh khắp nơi kéo đến xin chữa trị đông đến nổi không tính đếm được. Vì tâm Đại Từ Bi ngài chữa trị cho dân chúng không mệt mỏi, không quản ngày đêm nên kiệt sức mà chết. Ngài tái sinh làm Thái Tử ở cỏi Diêm Phù Đề. Mới sanh ra đã biết nói và kêu gọi mọi người chung sức chung lòng chăm lo việc bố thí. Trong cung Vua ai nghe được tin nầy đều hoảng sợ. Thấy thế Thái Tử trình cùng Thái Hậu rằng “Mẹ và mọi người đừng sợ, các đời trước con luôn hành hạnh Bố Thí như vậy.” Nghe như vậy từ chỗ sợ mọi người đều hân hoan vui vẻ giúp Thái tử sớm thành hạnh nguyện. Nhưng tài sản thì có hạng, mà người cần bố thí thì nhiều, không thể thỏa mãn được nên lòng vẫn u sầu. Có người mách với Thái Tử rằng Vua Rồng Đông hải trên búi tóc có viên Như Ý bảo châu có thể thỏa mãn nguyện ước của Thái Tử. Thế là Thái Tử xin phụ vương và mẫu hậu lên đường. Dù đã hết lòng can ngăn vì lộ trình quá ư nguy hiểm, nhưng rồi phụ vương và mẫu hậu cũng phải bằng lòng sau khi chọn một nhà hàng hải tiếng tăm và hơn một trăm thủy thủ đoàn kinh nghiệm. Sau ba tháng hải hành với sự chỉ điểm của nhà hàng hải đoàn thu được rất nhiều châu báu nhưng nhà Hàng Hải lâm bệnh và qua đời. Thái Tử cho tàu và thủy thủ đoàn trở về còn mình theo lời chỉ dẫn của nhà Hàng Hải ghi chép cẩn thận xuống một chiếc thuyền con theo lộ trình tiến tới. Đến cổng thành thứ nhất, tường cao ao sâu, toàn là rắn cực độc. Thái tử liền nhập từ tâm tam muội, dung pháp thủy thượng phiêu đi trên nước mà lướt qua đầu rắn một cách bình an. Bảy ngày sau qua thành thứ hai. Nơi đây có hai con rồng luôn phun nọc độc che khuất mọi lối đi. Thái tử vẫn dùng từ tâm tam muội và triển khai đạo nhãn thanh tịnh tiến bước. Hai rồng độc nghĩ người nầy chắc là quý khách của Đại Hải nên cung kính dẫn đường không hề làm khó dễ.
Thấy Thái Tử từ xa, Long Vương và Long Hậu bậc khóc vì có thần thông biết chắc đây là con mình, nên hỏi: Trong một tiền kiếp Thái Tử là con của chúng ta. Không hiểu sau đó lại thác sanh vào chốn nào? Thái tử bạch:
- Con sanh vào cỏi Diêm Phù Đề làm Thái Tử của một đại vương. Con vẫn giữ hạnh cứu độ chúng sanh nên mới xuống đây để xin ngài viên Như Ý Bảo Châu. Sau khi thảo luận hai ngài nói chúng sanh cỏi ấy bạc ác con làm sao giáo hóa được. Thái tử bảo với giáo pháp của Phật chàng có thể làm được việc nầy. Long Vương hứa khả với lời nhắn phải hoàn trả khi xong việc. Thái tử vâng thuận ở lại một hôm, hôm sau lên đường về quê nhà rất nhanh và an toàn nhờ thần lực của Long Vương.
Thấy Thái Tử trở về an toàn Vua và Mẫu Hậu rất vui. Hai vị nhìn viên bảo châu có chút xíu chưa tin vào thần lực của nó. Thái tử xin nhà vua chỉ thị quốc dân vệ sinh đường sá thôn ấp trì trai giữ giới, cầu xin bố thí điều chi khẩn bạch. Thái Tử sẽ cầu Như Ý bảo Châu làm cho mãn nguyện. Thái Tử dùng một cây gậy lớn cẩn viên Như Ý bảo Châu lên đầu gậy dựng gậy lên cao cầu xin khấn nguyện “Con nay vì lợi ích an lạc và hạnh phúc cho chúng sanh, xin như ý bảo châu hóa tác vật dụng như chúng sanh mong cầu, thảy cả đều đầy đủ”. Trên trời mây báu kéo về che kín quốc độ rồi nổi mưa báu tất cả chúng sanh thọ dụng không thiếu.
Niềm Tin và Ý lực trong sáng cộng với sự tinh tấn không mệt mỏi, hành thâm thiện hạnh, con đường tu dù có gian nan vẫn có thể thành toàn trong mai một.
Năm 2010 đã đến kính chúc anh chị em thân tâm nhẹ nhàng, an lạc trong từng hơi thở, an lạc trên từng bước chân, coi nhau như tăng thân, hành hoạt như một dòng chảy về nhà cha là chỗ vô sanh. Thân kính cùng tất cả anh chị em./.
BBT
http://www.gdptthegioi.org
10/1/10
Câu Chuyện Dưới Cờ ngày 10/01/2010
Anh chị em Lam Viên thân kính!
Gia Đình Phật Tử Việt Nam chúng ta là một tổ chức giáo dục Thanh Thiếu Niên của Phật Giáo trong đời ác năm trược mà xu hướng đời mình đến chỗ giải thoát giác ngộ, con đường đi hẳn còn nhiều gian nan. Bởi ACE chúng ta kiến thức nhân gian còn nhiều hạn chế, nghiệp dày phước mỏng, huệ trí chưa khai, Tâm Bồ Đề có phát, nguyện Bồ Đề có lập, nhưng phải khéo hành trì, thường xuyên soi rọi tự tâm, mới không lạc vào đường tà, mới không làm việc ma.
Bởi ngày xưa vào thời Phật Sư Tử Oai Âm Vương, trước khi thị tịch ngài độ vô lượng chúng sanh. Khi ngài nhập diệt có để lại hai cao đồ:
Thứ nhất là Pháp Sư HỶ CĂN pháp thân đoan chính chẳng lìa pháp thế gian mà hướng dẫn đạo lý Bồ Đề. Chẳng phân biệt thiện ác, chẳng tán thán thiểu dục tri túc chỉ rõ thực tướng các pháp lìa mê đoạn vọng ngộ đạo thành Phât. Đệ tử của ngài gồm toàn bậc lợi căn, thượng trí. Ngài thường nói: “Tướng DÂM NỘ SI cũng là thực tướng các pháp” Rồi triển khai vô lượng phương tiện thiện xảo để dẫn họ vào nhất thiết trí.
Thứ hai là Pháp Sư THẮNG Ý. Ngài nghiêm túc tu hạnh đầu đà được bốn thiền, bốn vô sắc định. Đệ tử ngài phần lớn độn căn thường phân biệt tịnh uế, nên ngài thường dạy tri túc thiểu dục, khuyến tu hạnh đầu đà. Ngài thường phê phán Pháp Sư Hỷ Căn dẫn người theo tà kiến. Một cao đồ của Pháp Sư HỶ CĂN đã đạt thiền chứng và thắng trí, một hôm gặp pháp sư THẮNG Ý bạch:
- Bạch Hòa Thượng, tướng của pháp dâm dục là gì? Ngài đáp:
- Đó là tướng của phiền não.
- Dâm dục phiền não ở bên trong hay ở bên ngoài? Ngài đáp:
- Chẳng ở trong cũng chẳng ở ngoài.
- Chẳng ở trong, chẳng phải ở ngoài, chẳng phải ở tứ phương đông, tây, nam, bắc. Như vậy dù có đi khắp cả bốn châu thiên hạ cũng chẳng sao tìm được thật tướng. Như vậy các pháp ấy chẳng có sanh, chẳng có diệt thì làm sao có thể não loạn được ta. Nghe xong ngài THẮNG Ý không thể đáp được, lại càng không vui đứng dậy bỏ đi mà còn phê phán: Pháp Sư Hỷ Căn đã lầm lạc, đưa đệ tử vào tà đạo.
Pháp sư HỶ CĂN nghe đệ tử thuật lại biết pháp lữ của mình chưa tỏ ngộ đạo ý bằng nói kệ khai ngộ có ba ngàn thiên tử chứng vô sanh pháp nhẫn. Một vạn tám ngàn thanh văn sáng tỏ đạo ý. Pháp Sư THẮNG Ý không nghe bị sa vào địa ngục thọ khổ 74 vạn đời. Lại cũng nên biết ngài Thắng Ý là tiền thân của ngài ĐẠI TRÍ VĂN THÙ SƯ LỢI BỒ TÁT. Cho nên hàng Bồ Tát còn phải quán soi thính chúng, khéo dụng phương tiện rồi mới thuyết pháp độ sanh.
Do vậy chúng ta phải cố gắng học rộng hiểu sâu hành thâm, luôn luôn soi rọi lại mình, biết lắng nghe, biết hổ thẹn với người với mình may ra mới không lầm lỗi, không lạc đường tà, không sa lưới ma. Phải cẩn thận lắm thay.
Thân kính cùng tất cả anh chị em!
BBT.
27/12/09
Câu Chuyện Dưới Cờ ngày 27/12/2009
Lại một năm mới _ 2010 _ sắp đến, theo qui luật tuần hoàn của vũ trụ và cứ mỗi lần xuân đến chúng ta lại nghe:
Tâm xuân, vũ trụ xuân
Tâm bình, thế giới bình
Có một lần, đức Phật được hỏi “sự an vui thật sự là gì?” Ngài trả lời: Sự an vui cao đẹp nhất là giữ được sự bình tâm khi gặp những nghịch cảnh, những thăng trầm của cuộc đời. Thật vậy, tất cả chúng ta đều có thể phải gặp hay đối diện với những hoàn cảnh dễ chịu hay đau khổ, thành công hay thất bại, được hay mất, tiếng tốt hay tiếng xấu v..v.. Không ai sống trên đời này mà không gặp những “ngọn gió” này. Nếu chúng ta có thể mỉm cười vô tư trước những ngọn gió ấy, một nụ cười chân thật phát xuất từ trái tim (Tâm) nghĩa là sự bình tâm từ tận đáy lòng, thì ta sẽ có an lạc thật sự. Đó là điều mà chúng ta thường được nghe từ các thiền sư:
Đối cảnh tâm không mạc vấn thiền
(nếu đối với cảnh mà tâm không phản ứng, thì khỏi hỏi về thiền nữa!)
Tuy nhiên, thông thường thì sự bình tâm chỉ có ở bên ngoài, vì thế nó không giúp gì được trong cuộc sống hằng ngày. Thật vậy, khi gặp một sự việc gì, chúng ta có thói quen phản ứng hoặc là ham muốn, hoặc là chán ghét, cái đó gọi là nghiệp (samkhara) ; nghiệp càng nhiều thì ta càng ít được an lạc (thi sĩ Nguyễn Du cũng nói):
Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa
Nghĩa là hạnh phúc an lạc, hay đau khổ phiền não là do những phản ứng của chúng ta nhiều hay ít, mạnh hay yếu. Thói quen cố hữu của tâm là phản ứng và gia tăng những phản ứng. Khi gặp một việc bất như ý thì tâm sinh ra 1 samkhara chán ghét ; khi samkhara nảy sinh trong Tâm thì trong Thân cũng có một cảm giác khó chịu xảy ra rồi do thói quen phản ứng, ta lại khởi lên một samkhara chán ghét cái cảm giác khó chịu mới xảy ra đó … cứ như thế, quá trình tăng trưởng của nghiệp bắt đầu. Chúng ta thấy rằng nguyên nhân bên ngoài gây ra sự nóng giận, bất mãn, khó chịu v.v.. là phụ ; sự phản ứng thật ra là phản ứng đối với những cảm giác bên trong thân và Tâm ta … Nếu ta không phản ứng lại các cảm giác mà trái lại, mĩm cười vì hiểu biết được tính vô thường của những cảm giác, thì lúc đó ta không tạo ra samkhara mới, và samkhara đã sinh ra sẽ yếu đi và không tăng trưởng nữa ; giây phút kế tiếp, một samkhara đồng loại ở sâu trong nội tâm sẽ nổi lên trong Tâm, nếu ta cũng giữ được sự bình tâm, không phản ứng thì nó sẽ lặn mất: quá trình diệt trừ các samkhara bắt đầu ...
Thưa Anh Chị Em,
Các quá trình sinh diệt, nhân quả mà chúng ta vừa quan sát trong thân tâm chúng ta cũng đã xảy ra trong vũ trụ từ ngàn xưa. Thật vậy, hãy xem cây bồ đề kia, từ một hạt giống nhỏ bé được mọc thành một cây to lớn, rồi sinh ra không biết bao nhiêu cành lá, hạt … hạt bồ đề rơi xuống đất, sẽ mọc lên nhiều cây bồ đề nữa, có những đặc tính giống như cây mẹ … thậm chí khi cây mẹ đã chết, không còn nữa thì quá trình sinh sôi nẩy nở vẫn được tiếp tục đến vô cùng, vô tận.
Bây giờ, chúng ta thử quán chiếu rộng ra 1 chút: tập thể chúng ta xem như đồng một Tâm: gặp những sự việc gì xảy đến, chúng ta giữ Tâm bình, đừng phản ứng... Chúng ta hãy quan sát mà không phản ứng (nghĩa là đừng khởi tâm ham muốn hay chán ghét) và với tâm quân bình này, chúng ta sẽ biết cách hành động chính chắn và nhiều hiệu quả nhất.
Có người đặt vấn đề: nhiều khi trong đời cần phải có những hành động mạnh để giúp đỡ những người sai quấy, vì có nhiều người không hiểu được những nụ cười, những lời nói lịch sự, thế thì làm sao? _ Xin thưa, trước khi có hành động mạnh, chúng ta phải xét xem Tâm mình có được bình tĩnh không? và chúng ta có lòng từ bi (tình thương) và sự bao dung dành cho họ không? nếu có thì hành động mạnh sẽ rất hữu ích, nếu không, hãy giữ thái độ bàng quan vì sẽ chẳng giúp ích cho ai được cả !
Nói tóm lại, chúng ta phải luôn tỉnh thức, kiểm điểm Tâm mình trước khi hành động, nếu tâm chứa đầy phiền não thì không thể giúp ích được ai.
Kính chào Tinh Tấn,
BBT
Giới Thiệu Blog Tình Lam
Nơi đây giao lưu kết nối anh chị em áo lam khắp mọi nơi.
Nơi cảm nhận những cảm xúc vui buồn của dòng máu Lam.
Nơi mang đến những nét đẹp của tình lam, cùng đồng hành sát cánh với anh chị em áo lam Quốc Nội & Hải Ngoại.
Tình Lam mong càng ngày phong phú hơn với các bài viết sưu khảo từ các nơi.
Xin hãy cùng chung tay chia sẻ với Tình Lam cho vòng tay thân ái luôn mãi kết chặt tình lam.
"Mỗi người là một cành hoa bay về đây góp gió
Làm thành vườn hoa,vườn hoa Tình Lam chúng mình"

Tình Lam rộng khắp bốn phương
Kết tình huynh đệ thân thương một nhà



