16/11/10
Câu chuyện thiền môn: Tùy duyên cuộc sống
14/11/10
Giàu có mà không được hưởng
- Ở đây, bạch Thế Tôn, có triệu phú gia chủ ở Sàvatthi bị mệnh chung, và con đến để xem tài sản của vị không có con ấy được chở vào nội thành. Bạch Thế Tôn, có đến tám triệu đồng tiền vàng, không nói đến tiền bằng bạc. Bạch Thế Tôn, tuy vậy đồ ăn của triệu phú gia chủ ấy lại chỉ gồm có cháo tấm chua ngày hôm qua để lại. Còn vải mặc chỉ mang vải gai may thành ba tấm. Còn xe thì đi xe nhỏ, cũ kỹ và hư nát, có gắn tán che bằng lá.
- Thật như vậy, thưa đại vương! Một kẻ không phải chân nhân, dầu cho có được tài sản lớn không đem lại an lạc cho mình, cha mẹ, vợ con, các người phục vụ, bạn bè thân hữu; đối với các vị Sa môn, Bà la môn, không thiết trí các sự cúng dường hướng thượng, có khả năng đưa lên thượng giới, đưa đến lạc quả, hướng đến thiên giới. Các tài sản của người ấy nếu không thọ dụng chơn chánh, thời vua chúa sẽ cướp đoạt, hay trộm cắp cướp đoạt, hay bị lửa đốt, hay bị nước cuốn trôi, hay bị con cháu thừa tự thù nghịch cướp đoạt. Sự việc là như vậy, thưa đại vương, các tài sản nếu không thọ dụng chơn chánh, đưa đến tổn giảm, không đưa đến thọ hưởng.(ĐTKVN, Tương Ưng Bộ I, chương 3, phẩm 2, phần Không con [lược], VNCPHVN ấn hành, 1993, tr.200)
LỜI BÀN:
Thì ra vị đại phú gia vô phước ấy chỉ biết làm lụng, tích lũy, cất chứa tiền của cho tràn đầy kho lẫm mà không biết tiêu tiền và thọ dụng tài sản một cách chính đáng. Với cách xử lý tài sản keo kiệt, của cải tuôn vào mà không hề rỉ ra, theo Thế Tôn, đại phú gia ấy không phải là người có trí, bậc chân nhân.
Chúng ta vẫn thường nghe, người làm ra của chứ của không làm ra người. Vì thế, một khi làm ăn khấm khá, trước phải chăm lo cho bản thân, gia đình, thân thuộc và những cộng sự. Sau cần phải chung sức xây dựng xã hội, phát triển cộng đồng. Quan trọng hơn, phải biết cúng dường Tam bảo, vun bồi thiện nghiệp, tích lũy phước báo cho đời này và đời sau.
Theo tuệ giác Thế Tôn, làm ra tiền vốn khó nhưng biết cách tiêu tiền hợp lý, có ý nghĩa lại càng khó hơn. Vì nếu biết cách xài tiền, thọ dụng tài sản do mình làm ra một cách chính đáng thì phước báo cũng như tài sản ngày càng tăng thêm, không tổn giảm. Ngược lại, nếu làm ra của cải mà chỉ bo bo cất giữ, không dám ăn tiêu, không giúp đỡ mọi người cũng như làm phước thiện thì rốt cuộc vẫn trắng tay và không có chút phước báo nào.
QUẢNG TÁNH
27/4/10
Chuyện kể về cái cuốc
Chuyện góp nhặt đầu tuần
Chuyện kể về cái cuốc
Một bác nông dân với cái cuốc, ngày qua ngày làm việc rất vất vả. Công việc cày cuốc rất mệt nhọc, nhưng lại được mùa thu hoạch tốt. Rồi một ngày nọ, ông không kiềm chế được nên tự hỏi chính mình: “tại sao tôi phải làm việc vất vả thế này? Cuộc sống chẳng có ý nghĩa gì và rất chán chường.Vậy cuộc sống của tôi sẽ trôi về đâu?”
Không lâu sau đó, có một vị Tăng đến nhà bác nông dân để xin nhờ bố thí. Vị Tăng trông rất thảnh thơi và an lạc, nên đã mang lại cho bác nông dân một ấn tượng đẹp về cuộc sống. Làm một vị Tăng, sống đời đạm bạc, không vướng víu vật gì trông rất là cảm phục. Thế rồi bác nông dân hoan hỷ bỏ lại tất cả và trở thành một vị Tăng.
Nhưng vừa rời khỏi nhà, bác nông dân bỗng nhiên cảm thấy hai bàn tay trống rỗng. Khi xưa ông ấy lúc nào cũng đi bên mình cái cuốc.. cái cuốc không rời khỏi bàn tay ông.. nên lúc này ông cảm thấy như mình rơi vào một trạng thái thiếu thốn nó .. Thế cho nên, ông quay trở về nhà để mang cái cuốc theo và cố nghĩ cho ra thử nên làm gì với cái cuốc này. Chỉ là một cái cuốc, một cái cuốc tốt đẹp. Cái cáng cuốc rất mịn và bóng, sau nhiều ngày miệt mài xử dụng… Và rất khó lòng quăn nó đi.
Cuối cùng ông ấy nghĩ, “ta sẽ gói nó lại và cất nó ở một nơi khác.” Ông tìm được một nơi rất an toàn trong căn nhà nhỏ để cất nó. Bây giờ mọi thứ bình thường. Và với tâm trí nhẹ nhàng, rốt cuộc bác nông dân đã thảnh thơi rời khỏi nhà.
Bác nông dân cố làm đủ mọi thứ để hoàn thành những điều cần thiết để trở nên một vị Tăng chánh thật. Tuy nhiên, cứ mỗi lần ông tản bộ hay bắt gặp một thửa đất trống xanh tươi, ông không kềm nỗi những suy nghĩ khởi lên về cái cuốc, ông nhớ nó. Cho nên thỉnh thoảng ông nôn nao quay về nhà để chỉ biết được cái cuốc đang còn đó rồi lại quay về Chùa.
Thời gian trôi qua nhanh, 7-8 năm lần lượt đi qua, vậy mà ông vẫn cảm thấy một cái gì đó thiếu thốn trong đời sống ông. Ông tự hỏi mình: “tại sao tôi không thể hoàn thành nguyện ước trở thành một vị Tăng, an nhiên tự tại, vui vẻ sau những tháng ngày tôi đã công phu luyện tập nuôi dưỡng đời sống tâm linh?.. Có cái gì đó làm tôi cứ phải quyến luyến và không rời bỏ được. Lúc này là lúc tôi cần phải bỏ đi cái gánh nặng này!” Ông vội vàng quay về nhà, mang cái cuốc ra, thảy xuống hồ nước.. Xong.. “tôi thắng! tôi thành công! Ông không thể nào kiềm nổi tiếng khóc sung sướng òa ra …
Ngay lúc ấy, một nhà vua, đang cầm đoàn quân chiến thắng tình cờ đi ngang qua. Nhà vua nghe được tiếng khóc và đến hỏi vị Tăng (là bác nông dân), “Ông thắng cái gì? tại sao ông vui vẻ đến thế! vị Tăng trả lời: “Tôi đã chinh phục được những thứ xấu trong trái tim tôi. Tôi đã bỏ được gánh nặng của sự quyến luyến...”
Nhà vua thấy vậy, một vị Tăng đã thắng được mình, không còn phiền não, không còn mơ hồ vướng víu… Nhà vua thầm nghĩ: “Tôi là người thắng trận. Sự chiến thắng này là của tôi.. Nhưng có thật tôi hạnh phúc chăng? Tôi chiếm lấy đất đai của người khác. Đấy đâu phải là sự chiến thắng. Lúc này, nhà vua chợt nhận ra rằng, dù ông đã thắng trận, nhưng ông không phải là người thắng cuộc, mà chỉ là một con người như bao nhiêu người khác, mang đầy những gánh nặng của cuộc sống, nào là phiền não, tham ái, giận hờn, v.v.. Ông lên tiếng nói rằng: chiến thắng xa trường chẳng phải là chiến thắng, mà phải chiến thắng cho được nội tâm của mình, đó mới thật là chiến thắng.”
Senhong76@gmail.com (dịch)
The Story of the Hoe (Chuyện kể về cái cuốc)
A farmer plowed the land with a hoe day after day, year after year. The work was hard, but the harvest was plentiful. And yet, one day he couldn't help but ask himself, "Why am I working so hard? Life is meaningless and boring! Where is my life heading?"
Shortly afterwards, a monk came to his house to ask for alms. The monk looked free and happy, which deeply impressed the farmer. Being a monk and living an unencumbered life seemed admirable. Yes, what a good idea! The farmer cheerfully made up his mind to give up everything and become a monk.
As soon as he left his house, he suddenly felt how empty his hands were. He was so used to holding a hoe in his hands to work that without the hoe he now felt a little lost. Therefore, he went back to his house, picked up his hoe, and tried hard to think of what he could do with it. It was a fine hoe. The shaft was smooth and shiny from daily use. It would be heartbreaking to throw it away.
"OK, then," he thought, "I'll wrap it up and put it away." He found a secure place in the house to hide it. Now everything was settled. With his mind at ease, the farmer left his house at last.
The farmer did all he could to fulfill the requirements to be a true monk. However, he could hardly resist thinking of his hoe whenever he came across green paddies. Every now and then, he would rush back home just to feel the hoe and then return to the temple.
Time passed by quickly. After seven or eight years, he felt that something was missing. "Why haven't I fulfilled my dream of becoming a free, happy monk after having tried very hard to cultivate my morality? There is something I haven't let go of. Now it's time to get rid of my burden!" He rushed back home, picked up the hoe and threw it into a lake. Splash, there it went! "I won! I succeeded!" he couldn't resist crying out loud.
Just at that moment, a king, leading his victorious army, happened to pass by. He overheard the cry and went to ask the monk, "What did you win? Why are you so cheerful?" "I have conquered the devils in my heart. I have let all my burdens go."
The king saw that the monk was really happy and free from earthly burdens and delusions. The king thought to himself, "Now I've won the war. Victory is mine. But am I really happy? I took lands that didn't belong to me. It is not real victory." Then and there, the king realized that although he had won the war, he was not a real winner, but a common person burdened with life's vexations. He realized that in order to become a real winner and a saint, you have to conquer the devils in your heart.
by Master Cheng Yen
18/3/10
Những câu chuyện thiền
Con sóng nhận thức
Nhìn thấy một con sóng cao lớn bên cạnh, con sóng nhỏ tỏ ra bực mình:
- Bực ghê. Sóng kia lớn quá, sao ta bé tí. Chúng mạnh mẽ xiết bao sao ta yếu đuối thế này.
Con sóng to cười đáp:
- Đó là vì không nhận ra gốc gác của mình mà bạn buồn bực thế.
- Tôi không là sóng thế là gì?
- Sóng chỉ là hình thức tạm thời trong bản chất của bạn. Kỳ thực bạn là nước. Một khi nhận ra
bản chất của chính mình là nước, bạn sẽ không còn ấm ức với cái vỏ sóng này và không còn
buồn bực gì nữa.
Con sóng nhỏ hiểu ra, cười vui vẻ:
- À, bây giờ thì tôi hiểu. Bạn và tôi tuy hai mà một.
Lời bình
Con người cho rằng "ngã" là ta nên xảy ra phân biệt ta và người mà buồn khổ. Thực ra loài người được cấu tạo cùng một bản chất trong thiên nhiên bao la.
Thiên đường địa ngục
Một vị tướng quân đến gặp thiền sư Ekaku hỏi:
- Bạch thầy, thiên đường hay địa ngục có thật hay không?
- Thế ngài là ai?
- Tôi là tướng quân.
Bất ngờ, thiền sư cười lớn:
- A ha! Thằng ngốc nào cho ông làm tướng vậy,trông ông giống anh hàng thịt.
Tướng quân nổi giận, rút gươm:
- Tao băm xác mi ra !!!
Thiền sư vẫn điềm tĩnh:
- Này là mở cửa địa ngục.
Chợt giác ngộ, vị tướng sụp xuống lạy:
- Xin... xin thầy tha lỗi cho cử chỉ thô bạo vừa rồi của tôi.
- Này là mở cửa thiên đường - thiền sư Ekaku mỉm cười.
Lời bình
Thiên đường, địa ngục không phải là chỗ con người tới sau khi chết mà nó ở đây và bây giờ!
Lành, dữ đều do tư tưởng. Cửa thiên đường địa ngục mở ra bất cứ lúc nào.
Thiên đàng địa ngục đều do tâm tạo
10/3/10
Truyện Rất Ngắn: Quang Thiện và Tô Phở Chay
Quang Thiện là Oanh Vũ Nam. Thân hình Quang Thiện to lớn có phần trội hơn nhiều anh ngành Thiếu Nam và Huynh Trưởng, nhưng cách đi đứng nói năng ăn uống của Quang Thiện thì chính hiệu là Oanh Vũ Nam!
Có lần, tôi ngồi đối diện với Quang Thiện trong giờ ăn trưa - hôm đó Gia Đình được ăn phở chay. Quang Thiện tay cầm chai tương ớt xịt lia lịa vào tô; chưa buông chai tương ớt, chẳng thèm khuấy cho tan đều, tay kia đã cầm muỗng xúc ăn dồn dập. Cay quá, Quang Thiện hít hà thả chai tương ớt chụp ly nước uống ực ực. Vừa nuốt trôi miếng nước, tay đã bỏ ly, cầm chai tương ớt lên xịt thêm vào tô... và lập lại quy trình!
Thấy hoàn cảnh đó của Quang Thiện có vẻ khổ quá nên tôi sanh lòng từ (vốn hiếm) mà lên tiếng can ngăn. Quang Thiện ngưng vài giây nhìn tôi như muốn nói "khi khổng khi không làm người ta mất hứng ăn", rồi tiếp tục trở lại với tô phở, chai tương ớt và ly nước.
Về nhà, hình ảnh Quang Thiện ăn phở ám ảnh tôi hoài (có giống ngày xưa người ta tham công án không thì chẳng biết). Một chiều mùa đông trời mưa đá, tôi ngộ ra tôi là Quang Thiện mà tài-sắc-danh-thực-thụy là chai-tương-ớt-ly-nước-tô-phở.
NQĐ
Tháng 3, 2010
23/1/10
CHÚ BÉ PHẬT
"Lâm, con đã tắm chưa? Bận đồ vô đi chùa với ba," ông Sự vừa chải đầu vừa nói với Lâm. Cậu bé mải lo lục soạn gì đó trong tủ áo, không nghe thấy.
Chải đầu xong, ông Sự bước đến chỗ con, lại thúc giục:
"Nãy giờ chưa chọn được cái áo nào vừa ý sao, ông tướng của tui?"
"Dạ? Ba nói gì vậy?" Lâm ngước lên hỏi.
"Ba bảo con lẹ lên, đến giờ làm lễ rồi. Con có nghe tiếng chuông trống không?"
"Con nghe rồi. Ba đi trước đi, con qua sau cũng được mà. Chùa gần kế bên nhà mà ba sợ con đi lạc hả?"
Ông Sự ngập ngừng một lúc rồi nói:
"Cũng được. Vậy con qua sau nghẹ Nhớ bận đồ sạch sẽ, đàng hoàng. Hôm nay Lễ Phật đản đó nghe con."
"Dạ, con nhớ mà."
Ông Sự đi rồi, Lâm lại tiếp tục tìm kiếm gì đó trong ngăn áo quần của mình. Sau cùng, Lâm nhét một vật vào cái túi ni-lông mà cậu để sẵn bên cạnh. Xong, cậu đi vòng qua chỗ nằm của bà ngoại để xuống bếp.
"Cháu Lâm đó hả?" bà ngoại Lâm hỏi.
"Dạ cháu đây ngoại," vừa trả lời, Lâm vừa dấu cái túi ni-lông sau đít nhưng sực nhớ lại là bà ngoại bị mù nên cậu yên tâm xách cái túi đi luôn xuống bếp. Cậu ì ạch mở nắp thạp gạo rạ Cái nắp bằng đất nung nặng khiếp đối với vóc người tí hon của Lâm khiến cậu xiểng liểng gần té.
"Gì vậy cháu? Kiếm cái gì trong thạp gạo? Chuối hả? Chưa chín đâu!" bà ngoại từ nhà trên nói vọng xuống.
"Dạ, chuối chưa chín ngoại à!"
Lâm trả lời ngoại nhưng tay cậu cứ mò trong thạp tìm cái lon. Lâm xúc gạo vào một cái túi ni-lông khác. Một lon, hai lon, ba lon... Lâm nhìn thử, rồi nhấc cái túi lên coi nặng nhẹ. Lại xúc. Bốn lon, năm lon. Vừa rồi. Cậu vừa ý rồi. Nhưng túm cái miệng túi lại để mang đi mới là chuyện khó. Cậu chẳng biết phải làm sao. Cuối cùng, cậu mở tủ bếp lôi ra một cái bao (loại bao đựng cát của quân đội mà người ta gọi tắt là bao cát). Lâm trút túi ni-lông gạo vào đó; rồi cái túi ni-lông còn lại kia đựng món đồ gì đó cồm cộm, mềm mềm, cậu cũng thồn chung vào luôn một thể. Xong công việc đó, cậu phủi tay, mặt hí hửng lắm. Rồi cậu rón rén vác cái bao đi về phía chùa.
Thực ra, Lâm đã có mặt ở chùa từ sáng sớm vì mẹ cậu ở lại đêm tại chùa để giúp dì Tám nấu cơm chay đãi bá tánh hôm naỵ Lúc đầu, Lâm còn phụ giúp mẹ làm được vài việc vặt vãnh, nhưng càng lúc người đến chùa và vào bếp làm công quả càng đông hơn khiến vai trò của cậu trở nên thừa thãi. Mẹ cậu mới bảo cậu về tắm rửa thay đồ để đi cùng ba đến lễ Phật. Từ nhà bếp ra trai đường (nhà ăn), ngang phòng khách, băng qua sân trước, Lâm hầu như phải lách bên đông, né bên Tây để khỏi bị người lớn tung nhằm hoặc dẫm phải chân. Người đông lắm. Ai cũng cười cười nói nói. Quang cảnh vui như ngày Tết. Bọn con nít lên năm lên sáu như cậu đứa nào cũng mặc đồ mới, đẹp. Có đứa còn bận áo dài nữa, trông ngộ ghê là ngộ. Cậu đứng lại ở sân chùa nhìn bọn chúng một chặp rồi mới bỏ về. Cậu nhất quyết là phải về tắm rửa sạch sẽ và bận một bộ đồ mới nhất của cậu cho bọn trẻ kia biết mặt. Hừm, chúng ngó cậu từ đầu đến chân như ngầm ý chê cậu không có đồ mới vậy! Lâm nhớ rằng bộ đồ ba sắm cho cậu hôm Tết vừa rồi cậu chỉ mới mặc vào mấy ngày Tết đó thôi, hãy còn mới lắm. Mặc vào, cậu sẽ không thua sút tụi kia đâu. Nghĩ vậy, cậu nhanh chân chạy ra khỏi chùa. Nhưng ra khỏi cổng, Lâm bất ngờ đụng phải một thằng bé dơ dáy. Cả hai cùng té nhào và cùng lồm cồm ngồi dậy. Thằng bé kia bị đánh rơi một cái ca nhôm móp méo và bẩn, trong ca nhôm văng ra mấy đồng cắc. Nó lật đật lượm tiền bỏ lại vào trong cạ Nó nhìn Lâm như muốn gây sự nhưng không hiểu sao nó lại thôi, và nó quay lưng tiến về phía một người đàn ông đang nằm dưới đất gần đó. Một người ăn xin tàn tật. Hai tay ông ta cụt gần tới nách. Hai chân thì chỉ có từ đầu gối trở lên. Tay chân ông đều được bọc bằng vỏ xe hơi, đo và cắt vừa tầm, cột chặt vào các cùi để có thể lết đi được trên đường. Mắt ông bị lòa cả hai con. Mũi thì sứt mất chừa lại một cái lỗ sâu hoắm. Hai môi ông thì còn đủ nhưng không ngậm lại được, phải luôn luôn há ra để lộ cái lưỡi di động, thụt thò, giật giật như thể một con rắn đang vùng vẫy trong miệng hang vậy. Cậu bé Lâm đứng chết sửng một chỗ nhìn người đàn ông tật nguyền khốn khổ kiạ Trong khi đó, thằng bé dơ dáy kia lại tiếp tục cầm ca nhôm đưa qua đưa lại xin tiền những người đến chùa. Nó đọc tới đọc lui một câu thuộc lòng, nhưng ai nghe và thấy cảnh đó cũng muốn ứa lệ:
"Các chú, các bác, các dì, các cô ơi! Cho con xin một đồng mua cháo cho ba con. Ba con tật nguyền không xin, không nói cảm ơn cô bác được. Con xin thay ba con lạy tạ cô bác..."
Khi bước gần đến chỗ Lâm, nó bỗng khựng lại, không nói lời van xin nữa, chỉ im lặng cầm cái ca hướng về mọi người. Nó có vẻ ngượng và tủi khi thấy Lâm nhìn mình. Nó quay về bên cạnh ba nó, đặt cái ca nhôm dưới đất, ngồi thẫn thờ chẳng ngước nhìn ai. Lâm vẫn đứng chôn chân một chỗ nhìn hai cha con người ăn xin. Một chốc, Lâm bỗng vùng chạy về nhà. Vừa chạy, nước mắt cậu vừa rớt ở trên đường.
Và bây giờ, cậu mang cái bao trên vai, trở lại chỗ hai cha con người ăn xin kiạ Cậu đứng một lúc ở xa xa, chờ khi vắng người mới tiến lại phía thằng bé ăn mày. Hai đứa bé ngập ngừng ngó nhau. Rồi thằng bé ăn xin quay mặt chỗ khác. Bé Lâm đặt túi vải xuống đất, gần chỗ người đàn ông tật nguyền, nói với thằng bé kia:
"Tao cho mày đó, lấy đi."
Thằng bé không nói gì nhưng mắt nhìn xuống cái túi vải, không dấu được vui mừng. Lâm nói:
"Có gạo ở trỏng. Với áo quần của tao nữa. Tao tên Lâm. Mày tên gì vậy?"
"Tao tên Bường," thằng bé trả lời mà trong giọng nó như gói theo lời cám ơn cậu bé Lâm.
"Mày có má không?" Lâm hỏi.
Bường ngó lơ chỗ khác. Một chặp nó mới trả lời:
"Có, mà má tao bỏ đi luôn rồi."
Nói tới đó, Bường ngồi xuống khóc hu hụ Lâm cũng khóc theo Bường. Trong trí óc non nớt, Lâm không làm sao tưởng tượng được nổi là có thể có một người mẹ nào lại bỏ con đi luôn. Bây giờ nghe Bường nói, Lâm thấy trong lòng nao nao lên một nỗi bơ vơ kỳ lạ như thể chính cậu đang ở trong hoàn cảnh của Bường vậy. Và chẳng biết phải an ủi sao, Lâm đành khóc theo bạn. đến khi thấy có người tới, Lâm mới nói với Bường:
"Thôi, tao vô chùa tụng kinh Phật đản nha!"
Vừa bước đi, Lâm vừa nghĩ đến mẹ. Ôi sao mẹ Lâm dịu hiền, dễ thương quá. Sao mẹ thương Lâm quá. Từ miếng bánh, cái kẹo, cho đến miếng cơm, manh áo, tập vở đi học... thứ chi mẹ cũng chăm sóc cho Lâm đầy đủ. Ngoài ra, hàng ngày, hàng đêm, Lâm không bao giờ thấy thiếu hình bóng mẹ với vòng tay thương yêu, với những nụ hôn trìu mến... Biết bao là hạnh phúc êm đềm Lâm được hưởng từ mẹ. Còn thằng Bường... Trời ơi! Sao mẹ nó có thể bỏ nó được! Tội nghiệp nó quá! Sống một đời không có mẹ thì làm sao chịu nổi. Lâm rơm rớm nước mắt, tưởng tượng nếu mẹ bỏ mình như mẹ Bường bỏ nó, chắc Lâm sẽ khóc suốt ngày đêm chứ không nói chuyện được như Bường đâu.
Lâm không bước vào chánh điện được vì quá đông người. Cậu mon men đi vòng quanh phía ngoài để tìm cửa sổ ngó vào bên trong chánh điện, đồng thời là để kiếm xem mẹ mình đang đứng ở đâu. Không thấy mẹ đâu cả, tự nhiên Lâm thấy quíu. Lâm thảng thốt chen vào đám người đứng quanh hành lang chánh điện. Cuối cùng, Lâm mới thấy mẹ đứng bên cạnh quả đại hồng chung; mẹ đang chú tâm tụng niệm, hai tay chắp hướng về phía Phật. Lâm bất kể mẹ đang làm gì, chạy tới ôm chầm ngang hông mẹ. Mẹ Lâm giật mình, ngó xuống, hơi khó chịu một chút, nhưng rồi cũng vui liền khi biết đó là Lâm. Mẹ không nói gì, chỉ đưa tay ra dấu Lâm yên lặng. Lâm tiu nghỉu một chút, rồi níu tay mẹ giật giật mấy cái. Mẹ cúi xuống hỏi nhỏ:
"Con muốn gì vậy? Không thấy mẹ đang tụng kinh sao?"
Lâm ngập ngừng một lúc rồi cũng nói nhỏ giọng như mẹ:
"Mẹ có bỏ con không mẹ?"
Mẹ Lâm trợn mắt chẳng hiểu chuyện gì, nhưng rồi bà cũng cười phì, ôm Lâm thật chặt một lúc, nói:
"Không có con chắc mẹ chết luôn! Làm sao bỏ con được!"
Lâm tin ngaỵ Không cần hỏi lại. Lâm biết, mẹ lúc nào cũng nói thật với mình. Và những lời bà vừa nói là những lời rất thật. Mẹ không thể nào xa Lâm được, cũng như Lâm không thể nào thiếu mẹ được cả. Lâm yên tâm, không thắc mắc gì nữa. Cậu nói với mẹ:
"Vậy con đi nghe, ở đây con không thấy gì hết, người ta che con hết trơn rồi."
"Ừ, con qua phía cửa sổ kia là nhìn vào được."
Chen được đến khung cửa sổ, nhìn vào trong, Lâm thấy các sư cô đang múc nước trong một cái chậu lớn và rưới lên tượng một chú bé đặt ở giữa chậu. Cậu chẳng hiểu tại sao các sư cô làm như vậy. Cậu cũng chẳng hiểu chú bé đứng trong chậu là ai. Nhưng trong cái vẻ cung kính trọng vọng của các sư cô và những người Phật tử đứng chung quanh, cậu cũng cảm thấy trong lòng nẩy sinh một niềm cảm kích to lớn đối với chú bé trong chậu nước đó. Cậu đang đứng quan sát bức tượng chú bé trong chậu bỗng có người đặt tay lên đầu mình. Cậu ngước lên và bắt gặp bạ
"Ba, ba ở ngoài này hả?"
"Ừ, ba vào trễ nên đứng ngoài. đừng ồn con, đang làm lễ tắm Phật đó."
"Tắm Phật hả bả Em bé trong thau là Phật hả ba?"
Ông Sự phì cười nhưng cũng vội bụm miệng con lại:
"Suÿt, nói tầm bậy. Chút nữa về ba kể sự tích đức Phật cho con nghẹ."
Lễ xong, hai cha con cùng ở lại ăn cơm chay tại chùa. Sau đó, ông Sự dắt bé Lâm về. Nhiều người ăn xin tràn vào tới tận thềm chánh điện, ngồi la liệt hai bên lối đi dẫn ra cổng chùa. Bé Lâm nói với ba nó:
"Ba, cho người ta tiền đi ba."
"Đông quá ba đâu có cho hết được."
"Cho mỗi người một đồng thôi mà."
"Cũng không có nữa. Họ khổ, họ nghèo, ba biết, nhưng con có biết là ba cũng đi làm cực khổ lắm mới nuôi được bà ngoại, mẹ con và hai cha con mình không! Con có biết là ba phải dành dụm từng đồng để mua sắm áo quần cho con đi học, mua gạo cho cả nhà ăn. Lúc nào ba cũng lo, cũng sợ trong nhà thiếu hụt. Còn mẹ con, không có tiền cúng dường Phật đản, đem công sức ra nấu nướng thức đêm thức hôm mà cúng dường đó."
Bé Lâm im lặng nghe ba nói. Cậu thấy thương ba quá và cậu ôm lấy bạ Ông Sự đứng lại xoa đầu con:
"Ba nói vậy thôi chứ khi nào có tiền ba cũng biết giúp đỡ người nghèo mà. Còn con, con phải ngoan ngoãn, rán học giỏi, sau này thành tài, có tiền có bạc thì mới giúp đỡ nhiều người được."
Bé Lâm như chẳng để ý lời ông vừa nói, ngước lên hỏi:
"Ba à, nếu con làm hao tốn của ba, ba có ghét con không?"
"Xì! Con nít mà hao tốn bao nhiêu lắm! Ủa, mà sao con hỏi vậy? Con làm đổ bể cái gì ở nhà phải không?"
"Không có, không có mà bạ Nhưng... con..."
"Con làm sao?"
"Con xúc gạo ở nhà đem cho người ta."
"Vậy hả? đâu có sao. Con làm vậy là tốt. Nhưng sau này con muốn cho ai cái gì cứ nói ba biết, nghe không?"
"Dạ," Lâm tính nói thêm là ngoài gạo ra cậu còn cho đi thứ khác nữa. Nhưng ông Sự đã kéo cậu đị Ông hỏi:
"Con xúc gạo cho hết mấy người ăn xin này đó hả?"
"Đâu có. Con cho có một người thôi. Ba mà thấy người đó ba cũng thương nữa. Giống như chú bé Phật đứng trong thau nước đó ba à. Tội nghiệp lắm. Ba nó... Má nó bỏ nó đó ba à."
Ông Sự chẳng để ý chuyện ba má thằng bé nào hết, ông chỉ thấy vui vui khi con mình ví một thằng bé khác với đức Phật. Ông cười to:
"Đâu, chú bé đó đâu, chỉ ba xem."
Lâm kéo tay ông Sự ra ngoài cổng. Lúc đó, Bường đã mặc chiếc áo ca rô mới của Lâm vào. Chiếc áo mà Lâm tính mặc đi dự lễ Phật đản hôm nay để cho bọn trẻ nhà giàu khỏi khinh. Lâm thấy Bường mặc áo của mình thì sung sướng là món quà đã làm Bường thích nhưng cậu cũng vừa lo sợ ông Sự la mắng hoặc đập cho một trận. Lâm nơm nớp ngước nhìn ba, chờ đợi thái độ của ông.
Ông Sự cũng đứng chết lặng trước cảnh tượng một đứa bé ăn xin cầm chiếc ca nhôm van lạy sự thương cảm của mọi người để nuôi nấng người cha tật nguyền suốt đời nằm vạ dưới đất. Lúc nãy đến chùa, vì vội vã và vì đám đông che khuất, ông đã không kịp nhìn thấy cảnh này. Bây giờ, ông sửng người ra nhìn hai cha con người ăn xin. đứa bé trạc tuổi con ông. Dơ dáy, nhưng khuôn mặt có vẻ sáng láng khôi ngộ đúng như lời bé Lâm nói, giống như một đức Phật. Tắm rửa sạch sẽ thì không khác gì chú bé Phật đứng trong thau nước trên chánh điện cả. Chiếc áo mà thằng bé ăn xin đang mặc là chiếc áo ông Sự mới sắm cho Lâm dịp Tết. Ông nhìn thoáng là biết ngaỵ Ông cúi xuống nhìn con. Bé Lâm ngước lên thấy cha rơm rớm nước mắt.
"Ba ơi, ba không giận con hở ba?"
"Không. Con làm đúng lắm. Con làm đúng lắm. Ba vui lắm con à!"
Lâm sung sướng ôm lấy ba, rồi lại ngước lên nói:
"Ba thấy không, nó giống chú bé Phật trong chùa phải không ba?"
"Ừ, giống lắm. Và con, con cũng giống chú bé Phật vô cùng."
Vĩnh Hảo
12/1/10
Truyện Ngắn: Sen Có Tàn Nơi Ấy ?
Thằng Tuệ cứ chạy lên nhà trước rồi lại vòng xuống cửa sau. Đó đang chờ anh hai nó, vì nó muốn hỏi một vài chuyện cho chương trình sinh hoạt của đàn nó vào ngày mai, cái chương trình mà nó đã lên kế hoạch cả tuần nay. Thằng Tuệ đang thắc mắc anh nó họp hành cái gì mà giờ này tối rồi mà vẫn chưa về. Bỗng nó nghe thấy tiếng xe đạp cọc cạch của anh nó từ ngoài ngõ, rồi nó chạy như bay ra cửa và đứng ngay thềm mà gọi với ra:
- Anh Ngọc, anh về rồi à, vào đây, vào đây. Anh góp ý cho đàn em vài trò chơi mới được không?
Ngọc hôm nay lạ lắm, mọi lần, khi nghe thằng Tuệ nhắc đến việc sinh hoạt là Ngọc xông xáo lắm. Ngọc đẩy chiếc xe đạp vào trong rồi bước vào phòng mà không nói gì, cứ thể như Ngọc chẳng nghe được câu hỏi của thằng em nhỏ... Vào đến phòng Ngọc nằm thừ ra đó chẳng buồn thay cái áo ra. Thằng Tuệ thấy làm lạ bèn hỏi nhỏ:
- Sao thế hở anh, tự nhiên anh đi họp về xong rồi mặt bí xị. Hay là đoàn anh có việc gì nên bị la hả?
Ngọc thở dài, mắt vẫn cứ nhìn lên trần nhà mà trả lời lãng đi:
- Thôi ngủ đi, giờ này tối rồi. Không thì bố mẹ sẽ la đấy.
- Nhưng trước khi ngủ em phải nghĩ ra một trò chơi mới cho đàn của em. Sáng mai tụi em vào chùa sớm để giúp các thầy quét lá rồi sau đó tụi em định chơi trò chơi vòng tròn nữa cơ ..
Thằng Tuệ gắng giải thích cho anh nó hiểu tầm quan trọng của buổi họp mặt sáng mai của đàn nó. Ngọc vẫn lặng thinh, chẳng nói chẳng rằng khiến cho thằng Tuệ thấy lo lo. Nói hỏi gặng anh nó:
- Sao thế anh, mấy anh chị không cho tụi em vào chùa sáng mai à. Tụi em chỉ vào giúp các thầy quét lá thôi mà?
Nó cứ hỏi câu đó liên tục làm cho Ngọc cũng chẳng yên rồi Ngọc lỡ miệng thốt ra những điều mà Ngọc không nên nói cho đứa em nhỏ của mình:
- Ừ, thì sao.. Ngày mai không đi đâu cả. Phải dẹp hết, không còn được đi sinh hoạt nữa đâu mà em cứ bàn tới bàn lui chuyện đó.
Thằng Tuệ mắt đỏ lên, môi nó run và nước mắt nó ứa ra. Nó nhìn anh nó rồi nó khóc, miệng nó lẩm bẩm câu gì đó mà Ngọc chỉ nghe được loáng thoáng:
- Ứ chịu đâu, mai đi chùa cơ, mai đi chùa cơ ...
Ngọc kéo thằng Tuệ lại rồi dỗ cho nó nín. Ngọc cảm thấy mình nên "xi nhan" cho thằng em "đầu đàn" của mình biết chuyện vì Ngọc tin tưởng thằng Tuệ sẽ hiểu chuyện mà không buồn nữa, và vì Ngọc cũng đang rất cần, rất muốn có một người để tâm sự, giải bày những gì đang xảy ra. Rồi Ngọc kể cho thằng Tuệ nghe ngắn gọn về chuyện "ngày mai chúng ta không thể đi sinh hoạt nữa":
- Lúc nãy anh được thông báo rằng có một số anh chị nào đó đã đồn đại rằng Đơn Vị chúng ta làm những điều không tốt, nói rằng chúng ta làm việc liên quan tới chính trị. Điều đó khiến cho các bác trong Ban Hộ Tự không tin tưởng vào ban huynh trưởng nữa. Còn thầy thì cũng lo lắng chuyện này chuyện kia , nên có ý muốn Đơn Vị sinh hoạt cùng với "bên đó" luôn.. Thế nhưng các anh chị mình luôn kiên định lập trường, nên như vậy thì anh em mình đành ở nhà, chờ thông báo của các anh chị thôi em ạ.
Thằng Tuệ tuy mới là đầu đàn, nhưng nó hiểu cái chữ "bên đó" của anh nó là như thế nào. Vì cái thành phố này là nơi mà "bên đó" rất đông và sinh hoạt rất khác biệt với Đơn Vị của nó đang sinh hoạt. Ngoài ra, nó cũng thường hay vào mạng xem tin tức với anh nó, nên nó hiểu và nó biết những gì đang xảy ra xung quanh nó hiện nay. Nó rùng mình, mặt nó giờ đây còn căng thẳng hơn cả anh nó. Cả hai anh em ngồi nói tới nói lui, bất giác Ngọc nhìn lên đồng hồ, bây giờ đã là khuya lắm rồi. Ngọc giục thằng em đi ngủ, còn Ngọc thì thay chiếc áo lam mà Ngọc đã mặc từ lúc đi họp tới giờ ra, xếp gọn trên bàn. Ngọc nắm chặt lấy cái huy hiệu hoa sen và cái bảng tên gia đình trong tay một hồi rồi đặt chúng lên trên chiếc áo lam. Ngọc trèo lên giường, cố gắng nhắm mắt lại và chìm dần vào trong giấc ngủ.
Sáng hôm sau, thằng Tuệ chạy từ nhà trước vào và réo Ngọc inh ỏi.
- Anh Ngọc, dậy mau, dậy mau. Có một ông dân phòng tới nói với ngoại là anh đang quậy phá trong chùa kìa anh. Người đó kể giống anh nói tối hôm qua đó, họ nói oan cho tụi mình kìa anh.. Dậy mau đi anh !!
Ngọc nghe tới đó mà điếng cả hồn, Ngọc toan chạy ra nhà trước nghe ngóng tình hình thì ngoại đã vào tới nơi. Ngoại chả gì, chỉ căn dặn là hôm nay không được đi lên chùa, ở nhà chờ ba mẹ về rồi ngoại nói chuyện cho nghe.
Ngọc chưa kịp hoàn hồn thì chuông điện thoại reo lên. Đầu dây bên kia là giọng vài đứa đoàn sinh than thở với Ngọc vì tụi nó cũng bị mấy người lạ tới nói năng nhặng xị lên, làm chúng bị cha mẹ đánh đòn và cấm tuyệt đối không cho lên chùa sinh hoạt nữa. Ngọc thẫn thờ như người mất hồn. Ngọc không ngờ chuyện lại đi đến mức như vậy. Họ đã cấm đơn vị sinh hoạt thì chớ, sao lại làm những việc oan ức thế này cho các em nhỏ. Ngọc cảm thấy rất đau, nó cắn chặt môi, mắt đỏ lừ, Ngọc đang cố ngăn không cho nước mắt tràn ra, còn phía dưới chân Ngọc là thằng Tuệ, nó đã khóc, khóc từ lâu rồi ...
Bữa tối hôm đó diễn ra trong không khí căng thẳng. Ngọc phải đối diện với cả ba nguồn áp lực. Ngoại, ba, mẹ đều cấm hai anh em Ngọc từ nay không được đi sinh hoạt nữa. Lý do đưa ra đó là ban dân phòng yêu cầu gia đình quản lý việc sinh hoạt Ngọc vì họ cho rằng Ngọc và cái nhóm gì đó gọi là Gia Đình Phật Tử là làm việc chính trị. Và nếu Ngọc không nghe theo lời ngoại căn dặn thì cả nhà sẽ xem như không liên quan tới Ngọc nữa. Ngọc nghe xong câu chuyện mà đành đau lòng, ngậm ngùi xếp chiếc áo Lam vào ngăn tủ. Thế nhưng cái ý chí và niềm hy vọng vẫn mãi ấp ủ trong tâm trí của Ngọc, một huynh trưởng trẻ chỉ vừa mới tròn đầy hai mươi. Ngọc tin vào tổ chức và tin vào lý tưởng mà mình đang đeo đuổi vì những hạt giống trong tim của Ngọc đã được ươm bởi tình thương yêu và tưới tẩm bởi sự chăm sóc ân cần của chị anh..
Ngày lại qua ngày, Ngọc vẫn thỉnh thoảng rủ cả đám thiếu nam đi uống nước, cốt chỉ để viện cái cớ ra ngoài cùng nhau họp mặt, chia sẽ những niềm vui nỗi buồn, và đôi lúc là cùng nhau ôn lại những bài Phật Pháp, cùng nhớ lại tiếng réo rắt của chiếc còi thổi vang..
Gần 2 tháng trôi qua, tin tức về việc sinh hoạt vẫn chưa có, mặc dù Ngọc biết các anh chị lớn vẫn luôn trăn trở tìm đủ mọi cách. Một hôm nọ, Ngọc thấy một nhóm sinh viên trường vẽ họp mặt và cùng sinh hoạt ở công viên, thế là Ngọc nảy ra ý tưởng kéo các em đến công viên, để các em sinh hoạt vòng tròn và vui chơi. Thay vì để các em lêu lỏng, thì Ngọc muốn rủ các em đoàn sinh đến và tạo cho các em một sân chơi bổ ích, để các em lại có nơi sinh hoạt, tiếp tục học những bài chuyên môn và Phật Pháp. Một nơi sinh hoạt tạm thời đã tìm ra, chương trình sinh hoạt được Ngọc và nhóm bạn chuẩn bị chu đáo và rất kỹ lưỡng để tránh sự truy cản và tránh tạo ra những lý do để những "người kia" bắt bẻ.
Một ngày chủ nhật nọ, Ngọc xin phép cùng Tuệ xách xe ra công viên chơi. Cả hai đều mặc áo thun và quần dài bình thường như mọi ngày, và cũng chả mang ba lô giỏ xách gì cả. Trên xe chỉ có chai nước suối và bịch bánh nên ngoại cũng không cản việc anh em đi chơi.. Ngọc đạp xe ra ngoài đầu ngõ, chạy như bay theo con đường dài về hướng công viên. Lòng Ngọc hân hoan như được sống lại, còn thằng Tuệ thì cứ ríu rít sau xe, nó cứ lẩm nhẩm bài hát mà nó đã dự định tập cho đàn nó lần trước. Hai anh em cùng nhau đi trên con đường đầy nắng chiều, những tán lá đu đưa như mời gọi một chiều chủ nhật thật vui...
Chiều hôm đó, nơi phía công viên, vang vọng những tiếng hát của những mầm non tương lai, và chứa chan tinh thần quên mình phụng sự của những người huynh trưởng trẻ, những người đã và đang ươm và ấp ủ những niềm tin và tia hy vọng cho ngày mai ..
Vậy thử hỏi, sen có tàn nơi ấy?
Yêu quá lam ơi !!
27/12/09
Ông già áo lam
Từ Khoa
Vinh bực mình về ông già "chùa" hết sức, lúc không cần ý kiến ổng thì ở đâu ổng nhẩy vô, lúc cần ý kiến ổng thì ổng lại thối thác: "chuyện này tôi vô ý kiến", tưởng "vô ý kiến" như vậy cũng hay, coi như ổng đứng ngoài, như vậy Vinh có thể triển khai ý mình một cách cụ thể cho ban huynh trưởng biểu quyết thì đùng một cái ổng lại nhẩy vô : "Theo ý tôi thì anh em nên nghĩ lại, chuyện này không nên làm như vậy,...vân vân và vân vân...." Đã nhiều lần Vinh cùng vài anh em trong ban huynh trưởng muốn mời ông già này về hưu cho rồi, nhưng ngặt một nỗi là cái anh Liên đoàn phó Chúc và cô nàng thủ quỹ Liên lại cứ năn nỉ và đề nghị ông già ở lại :
- Bác ở lại để đóng góp và chỉ dạy cho chúng con, vả lại ít nhiều bác cũng đã tham gia Gia đình Phật tử từ lâu, chứ nếu bác từ chức, chúng con khó tìm được người khác, mà giả sử bên chi hội có một chú, một bác nào đó thương mà lãnh vai trò đó, nhưng chú đó, bác đó lại không biết nhiều về tổ chức thì cứ đưa ý kiến ra tùm lum, tụi con thi hành thì khó, mà không thi hành cũng khó !
Thủ quỹ Liên xen vô :
- Thôi, bác cứ ở lại giúp chúng con, đơn vị đang trong giai đoạn vừa củng cố vừa phát triển, mà bác đi ra thì chúng con như "con thiếu cha, nhà thiếu nóc" làm sao !!! ?
Một vài người trong ban phụ huynh nghe mùi tai, thông nhĩ, cũng đốc thêm vào, và đương nhiên ông già lại đảm chức "bác gia trưởng" như cũ, có người cho rằng : "Ông Bảy làm gia trưởng là đúng lý quá rồi, ổng không làm thì ai làm, biểu tui làm, tui biết gì đâu mà làm, lọt chọt tùm lum, tội nghiệp tụi nhỏ !"
Dĩ nhiên là Vinh không phải không thấy mấy điểm đó, anh cũng thừa biết ngày nay mình có học xong khoá huấn luyện nọ, khoá huấn luyện kia thì cũng chỉ là người huynh trưởng mới toanh vừa bóc nhãn, so với cuộc đời áo lam của ông già chùa thì mình thua xa, thuộc loại tiểu hậu bối của ổng. Sở dĩ gọi tiểu hậu bối vì ổng có thể là hàng huynh trưởng của các anh huynh trưởng của mình nữa là khác. Thật sự Vinh không hẳn có thành kiến nhiều với ông Bảy, anh cũng không quên những công lao của ông ta trong những ngày đầu đầy gian nan tái hoạt động đối với gia đình Phật tử ở địa phương này. Gọi là "tái" là vì trước đây nó đã hình thành, nhưng do một lý do nào đó Vinh không rõ, nó "ngủm củ tỏi". Mãi đến ba năm sau, tự nhiên trong chi hội xuất hiện sự tham gia một hội viên mới là ông Bảy thì đề án gia đình Phật tử lại được gầy lại. Lúc đó trong chi hội cũng không còn tin tưởng gì đề án này cho lắm, nhiều người nói lãng ra :
- Thành lập thì dễ, duy trì mới khó ! Chết ngắc một lần rồi, bây giờ tụi nhỏ thấy chùa là tránh ra thì không biết làm sao gọi chúng lại !
- Tui nghe nói : tụi nó lánh vì chùa biểu tụi nó tu nhiều quá, nó quợn !!!
- Hổng phải, tại việc chùa mấy năm trước đây nhiều quá, chỉ em nào thích Phật pháp thì còn đến, nhưng đa số tụi trẻ thì ham chơi, chúng phụ làm thì mình cũng phải để chúng chơi một chút thì còn giữ được, chứ biểu chúng làm hoài, đứa đang ở trong thì cũng muốn xù, nữa là đứa đang ở ngoài thì làm sao nó chịu vô. Vậy là lèo tèo, tắt ngủm cù đèo !!!
- Ôi thôi, cũng khó nói lắm, cũng cùng một tuổi trẻ mà trăm đứa trăm ý, trăm tính nết khác nhau, phần lớn là thích động nhiều hơn tĩnh, trong khi đây là hội Phật, để tụi nó quạy riết thì còn gì danh xưng Phật tử !!!!
....
Không phải gì đến mười người mười ý nữa, mà có khi chỉ 9 người cũng đến 10 ý, nay thế này mai thế nọ, việc Phật sự trong chi hội cứ thế mà rối beng như mì sợi. Nhưng rồi một ngày kia, ông Bảy tự nhiên tham gia vào chi hội, ông lôi kéo và kêu gọi vào thanh niên trẻ đã có thời đóng góp nhiệt tình với chi hội trở về, Chúc là một trong số đó, rồi ông đề nghị gởi Chúc, Liên và vài em nữa đi học trại Lộc Uyển, cùng tham dự trại nọ trại kia học hỏi cách sinh hoạt, tiếp tay cùng Vinh. Ông khuyến khích phụ huynh cổ động con em tham gia sinh hoạt gia đình Phật tử, chẳng quản nắng mưa, gió tuyết, tuy tuổi đã ngoài 60 nhưng ông vẫn lặn lội đến với bọn anh. Từng chút một, từng ngày một, từng tháng một và đã hơn hai năm nay, ông cùng vài huynh trưởng tập sự ban đầu đã đưa gia đình Phật tử Quán Âm từ con số không đến 30 đoàn sinh và 7 huynh trưởng. Nếu với thời gian như vậy và một đơn vị chỉ 37 người như vậy mà ở Việt Nam, hay ở nơi cộng đồng người Việt đông như Hoa kỳ, thì đây là một thành quả quá khiêm nhường, nếu không muốn nói là "bệ rạc", nhưng ở một thành phố nhỏ tại Âu Châu, cộng đồng chỉ lèo tèo hai, ba ngàn người Việt Nam định cư rải rác, bao gồm nhiều thành phần chính trị, tôn giáo và xu hướng khác nhau, thì phải nói đó là một thành quả to lớn và công lao của ông Bảy không ít.
Nhưng có lẽ trời sanh ra con người càng già nua càng trở nên thận trọng, càng trẻ con tư tưởng càng phóng túng, cho nên giữa ông Bảy và nhóm của Vinh đôi khi có những ý kiến không thuận với nhau. Có lần, sau một buổi lễ, đơn vị anh thu được một ít tiền quỹ do bán bánh trái, chè, nước trong buổi lễ, sau khi cúng dường để chuẩn bị làm chùa một phần, phần còn lại xung vào quỹ, anh dự định cho anh em đi picnic ngoại ô một chuyến và nhân cơ hội đó khao quân ngoài trời cho vui, thì ông Bảy cản lại, ổng nói :
- Các con muốn đi chơi xa thì đi cho thật xa, thu về thật nhiều lợi ích, chẳng hạn vài tháng nữa có trại Ban Hướng Dẫn tổ chức nè ! Đó, để dành tiền đi chuyến đó đi. Còn bây giờ mình có đoàn quán thì cứ về đó sinh hoạt, còn ăn uống thì các anh chị nên giữ giới của người Phật tử cho các em noi theo, chứ mặc áo lam ra đồi, ra hồ ăn mặn coi không được chút nào !
Vinh cãi lại :
- Đâu có ăn mặn chú Bảy, tụi con cho các em ăn chay mà, nhưng tính đi Eurodisneyland một chuyến cho các em vui thôi, để các em hăng say sau những ngày tháng đóng góp cho chi hội mệt mỏi.
- Vé eurpdisney cũng đâu rẻ, theo tui các anh nên cho các em chơi hay đi đâu đó cho có ý nghĩa, chứ vô trỏng dĩ nhiên là tụi nhỏ thích rồi, nhưng hao ngân quỹ mình quá !!!
Thế là "out" chuyến đi eurodisney lần đó. Một lần khác nhân một ngày nghỉ lễ cuối năm vào ngày thứ hai trong tuần, mọi người sẽ được nghỉ week-end 3 ngày, anh em đề nghị tổ chức tiệc tất niên, ý kiến xong xuôi đâu vào đó, thậm chí Khanh, con trai ông Bảy, đoàn phó đoàn thiếu nam, còn nói :
- Anh Vinh ơi, đừng để tin này cho ba em biết nha, ổng biết là ổng góp ý vô thì coi chừng ổng bác ra cho coi !
Nhưng rồi không hiểu sao ổng cũng biết, ổng lại đề nghị :
- Tất niên là việc các con muốn vui chơi một chút, tui cũng không phản đối....
Khanh nháy Vinh ra ý muốn nói "như vậy ổng không cản, đỡ quá !"
- ... Nhưng mà sắp tới đây là ngày mùng 8 tháng 12 âm lịch, tức ngày Đức Phật thành Đạo, theo truyền thống thì đó là ngày Dũng. Vậy theo ý tui, các con nên tổ chức đi thăm viếng một trại dưỡng lão cách đây 30 cây số, trong đó có 3 cụ già Việt Nam rất cô đơn và tội nghiệp.....
Sau một loạt tràng giang đại hải ý nghĩa ngày Dũng của Thanh và Thiếu Nam, thế là ban Liên đoàn và phụ huynh phải thuận theo ý ông Bảy và đến chừng định ngày thì lại đúng vào ngày mà ban Liên đoàn định làm tất niên. Thế là cuối cùng ngày tất niên bị dời lại 2 tuần sau đó, cùng với thời gian dự trù là suốt một buổi chiều và tối, thì bữa tiệc tất niên cũng bị "giảm biên chế", từ thức ăn mặn và hát karaôkê, nay chỉ còn cắt bánh bông lan, ăn chè và hát karaôkê chừng một hai tiếng rồi về vì hôm sau còn phải đi làm và đi học. Hỏi chứ : tự nhiên ở đâu có ý kiến của ổng làm trét lét hết trơn, khiến Vinh, Khanh và vài ba huynh trưởng nữa tính lấy le với đoàn sinh mình bị cụt hứng hết trọi !, làm sao không tức !!
* * *
Thật sự ông Bảy không phải là không thông cảm ý của các anh em trong gia đình Phật tử, chính ông cũng đã từng là đoàn sinh ngành Thiếu, rồi theo tổ chức mười mấy năm cho đến lúc lãnh vai trò Liên Đoàn Phó. Ngày nay huynh trưởng ở hải ngoại do những chuyển biến trầm nhiều hơn thăng của tổ chức, một đoàn sinh chỉ chừng 4 hoặc 5 năm là phải gồng vai đeo loon Liên Đoàn Phó, có khi chưa qua trại huấn luyện A-Dục nữa là khác. Chứ thời ông làm gì có chuyện đó !
Hiện tại đưa ông lui về quá khứ hơn bốn mươi mấy năm về trước, gợi ông nhớ lại những kỷ niệm vui nhiều hơn buồn với Gia đình Phật tử Chánh Thiện, đối với ông đó là một quãng đời vui vẻ nhất. Mỗi tuần đến ngày sinh hoạt, trong sân chùa không bao giờ vắng tiếng cười của anh chị em áo lam của ông, từ một em Oanh Vũ đến một huynh trưởng cao niên đều hòa đồng trong tình Đạo nghĩa Đời. Rồi biến cố 75 xảy ra, đơn vị Chánh Thiện tan nát, các em ông lần lượt tan hàng vì phải gia nhập đoàn Thiếu niên Tiền Phong làm "cháu ngoan bác Hồ", ngành Thanh thì bị bắt đi nghĩa vụ, đi thanh niên xung phong, còn vài trường hợp thì đi biệt xứ. Trong giai đoạn tang thương ấy, ông vẫn đi lại với chùa và vài ba em còn nặng tình với tổ chức, có những trưa hè, anh em kéo nhau ra vườn chùa tìm một bóng râm nào đó ngồi vòng tròn tâm sự, cái vòng tròn ngày xưa bao bọc cả sân chùa thì cái vòng tròn ngày nay chỉ cần một bóng cây nhỏ cũng đủ che rợp cả anh, chị, em. Còn vài người, ngồi nhắc kỷ niệm cũ, nhắc đàn em đứa nào còn thấy mặt, đứa nào vắng bóng ; đứa nào đã tử trận ở Kampuchia và đứa nào đã làm mồi cho cá !!!, đó là quãng đời đau buồn nhất của ông.
Rồi cũng như bao người, ông phải đưa gia đình ông rời quê hương ra đi, mười mấy năm lưu lạc, chật vật mưu sinh nơi xứ người đã lấp dần tâm tình nhớ thương của ông dành cho gia đình Phật tử. Bốn tiếng Gia đình Phật tử tưởng rằng đã đi vào dĩ vãng và có lẽ quãng đời còn lại của ông sẽ không bao giờ có dịp trông thấy màu áo lam và cái đoàn thể thanh thiếu niên trẻ kia mà suốt quãng đời thơ ấu đến thanh niên ông đã theo đuổi. Nhưng bỗng một ngày, gia đình ông nhận được thơ mời dự lễ Phật Đản của chi hội Phật giáo tại địa phương, tại cái tỉnh ông ở không có chùa, chi hội được toà thị chính cho mượn một địa điểm trong một ngày để chi hội làm lễ. Trong dịp đó ông gặp Vinh, hôm đó Vinh có ý mời Khanh tham gia gia đình Phật tử, nghe vậy ông liền hỏi :
- Bộ ở đây cũng có gia đình Phật tử sao ?
Vinh vui vẻ trả lời :
- Dạ chưa chú Bảy, chúng con được sự khuyến khích của Thầy mỗi lần về làm lễ, nên cũng muốn lập gia đình Phật tử, nhưng khó quá, con thì không biết gì nhiều mà các anh em thì không ai tham gia với chi hội, thành ra không lập được là vậy !!!
Chuyện lễ lộc qua đi, cũng chưa gây được một nguồn kích động nào đối với ông, thì bỗng dưng chi hội nhận được thơ mời dự trại gia đình Phật tử của Ban Hướng Dẫn, Khanh được Vinh rủ đi, ông cùng đi theo. Ba ngày nơi đất trại, trong khuôn viên chùa, đồng phục áo lam của các trại sinh kéo nguồn tâm tư của ông dâng tràn. Ông cảm xúc trước hai tiếng : Dân tộc và Đạo Pháp. Dĩ vãng vui buồn kéo về dồn dập, hình ảnh chùa cũ quê xưa chiếm trọn hồn ông, chiếc áo lam ngày nào tưởng rằng không bao giờ được nhìn thấy thì nay ông lại được những đàn em khoác lên nơi xứ lạ quê người này, bông sen trắng lại tiếp tục nở trên tuyết. Và từ đó, khi trở về địa phương ông hết lòng khuyến khích Khanh tham gia cùng Vinh, ông vận động chi hội cùng các phụ huynh nên cho con em tham gia Gia đình Phật tử. Ông gởi thêm vài đoàn sinh đi học trại huấn luyện Huynh trưởng Lộc Uyển để tạo thêm tinh thần và nồng cốt cho đơn vị, đồng thời chấp nhận lãnh chức Bác Gia trưởng cho Gia đình Phật tử Quán Âm tại địa phương này.
* * *
Thời gian gần đây ông thường hay đau ốm luôn, đôi lúc muốn từ chức vai trò Gia trưởng và mời một phụ huynh khác trong chi hội đảm nhận giùm. Thêm nữa, bây giờ các anh em ý thức được nhiều, đã qua giai đoạn hình thành, đơn vị có phần vững chãi hơn xưa. Ban Liên đoàn đã có thể tự quyết và điều hành sinh hoạt cho đoàn. Đã vài lần ông xin từ chức thì lại có phụ huynh và huynh trưởng đứng ra mời ông ở lại. Trong tâm tư ông muốn rút về vị trí một người Phật tử tại gia để chuẩn bị hành trang cho cuối cuộc đời. Nhiều đêm thao thức ông ôn nhớ lại quãng đời của ông, ông nghĩ về bà Bảy, vợ ông, và thằng Khanh. Bà Bảy tần tảo với ông hơn hai mươi mấy năm qua, chưa một lần trách móc ông khi ông tham gia gầy dựng gia đình Phật tử. Mấy năm gần đây ông phải lo cho đơn vị, bà vẫn vui vẻ lên chùa làm công quả và đứng tên trong ban bảo trợ gia đình Phật tử. Gần cuối đời, ông muốn cùng bà sống cho trọn tình một kiếp người. Thằng Khanh được ông bà bồng bế nó rời quê hương từ năm nó mười tuổi, mười mấy năm qua ông hết sức dạy nó Việt ngữ để nó có hội nhập với xã hội phương Tây cũng không thể quên tiếng mẹ đẻ. Ông hy vọng "đi cày" thêm vài năm, đợi Khanh ra trường, có việc làm thì cũng vừa lúc ông xin nghỉ hưu là vừa.
* * *
Dù đã 12 giờ khuya rồi, Vinh vẫn không thể kềm chế được lòng, anh lại nâng máy gọi lần nữa đến nhà ông Bảy :
- A lô, thưa thím, chú Bảy về chưa thím ?
Giọng bà Bảy vẫn đều đặn, nhưng không dấu nỗi lo lắng :
- Chưa con à ! Không biết có chuyện gì không mà sao thím lo quá !
- Khanh còn thức không thím ?
- Còn, nó cũng đang đứng đây nè ! Con nói chuyện với nó nha !
- Dạ, cám ơn thím !
- A lô, Khanh đó hả em ? Em và chú có khởi hành cùng lúc không mà sao tới giờ chú cũng chưa về nữa hả em ?
- Dạ có, xe em 5 người, xe anh Chúc cũng 5 người, xe anh Thắng khởi hành cùng lúc, ba em ngồi xe anh Thắng, đến chừng khoảng nửa đường thì em và anh Chúc không thấy xe ảnh đâu nữa, tụi em ghé vào một trạm nghỉ đứng đợi, rửa mặt, mà đợi hơn tiếng đồng hồ cũng không thấy nên tụi em phải về trước.
- Trong xe Thắng có chú rồi còn ai nữa em ?
- Thằng Đạt, thằng Phú trong đoàn Thiếu của em.
- Ờ, thôi ; anh gọi qua nhà Thắng thử coi, chừng nào em có tin gì mới nhớ gọi cho anh nghe !
Cả đêm hôm đó Vinh không tài nào chợp mắt, vợ anh cứ giục :
- Thôi, anh ngủ đi mai còn đi làm, em nghĩ chắc không sao đâu !
Bốn tiếng "chắc không sao đâu" lại càng gây cho người ta suy nghĩ đến nhiều vọng tưởng bất an. Làm sao anh không lo khi đáng lẽ kỳ trại họp bạn lần này anh phải đi cùng anh em, thì anh bị bận việc bất ngờ, nên đành giao Đoàn cho Chúc cùng chú Bảy đưa anh em đi trại, đi 3 xe mà giờ trở về chỉ có hai, còn một xe chưa biết ở đâu. Anh gọi sang nhà Thắng thì vẫn không có ai nâng máy, chứng tỏ Thắng cũng chưa về, thỉnh thoảng ba thằng Đạt và ba thằng Phú lại gọi lại cho anh :
- Chú Vinh đó hả ? Sao thằng nhỏ chưa thấy về ?
Anh phải trấn an và sạo thêm rằng :
- Nó đi cùng xe với chú Bảy, chắc ghé chùa nào đó dọc đường, không chừng còn ngủ lại đó nên chưa về !
Nỗi lo lắng khiến anh cảm thấy đêm dài ra, mệt nhọc, anh thiếp trên sa-lông lúc nào không hay.
Tiếng điện thoại reo, Vinh choàng bắn dậy, đồng hồ trên tường chỉ 5 giờ sáng, bên kia đầu giây, tiếng Chúc cất lên có vẻ dồn dập :
- A lô, Anh Vinh đó hả ?
Vinh đáp nhanh :
- Ờ, có tin gì không em, anh đang lo quá !
Giọng Chúc run và lạc dần trong ống nghe :
- Xe anh Thắng bị accident (1) rồi, cả 4 người đều bị đưa vô nhà thương, người ta gọi về cho thím Bảy, Khanh mới gọi cho em, Khanh chở thím Bảy lên nhà thương rồi. Thôi, em lên đó liền bây giờ, anh tìm cách báo cho nhà thằng Phú, thằng Đạt biết nha, em sợ báo tin này cho người ta quá !!
Chúc buông điện thoại, Vinh nghe tiếng máy cúp mà vẫn chưa chịu gác máy, anh chết lặng một lúc, vợ anh từ trong phòng đi ra hỏi :
- Có chuyện gì vậy anh ?
Vinh thuật lại vắn tắt cho nàng nghe, cô nàng cũng chết sững, ngồi phịch xuống sa-lông. Anh bỏ mặc vợ, chạy vào phòng thay quần áo, phóng nhanh ra cửa, vừa đi vừa nói với lại :
- Anh nhờ em phôn cho ba thằng Đạt, ba thằng Phú giùm anh, bây giờ anh lên bệnh viện ngay. Đến sáng anh chưa về thì phôn vào hãng xin phép cho anh đau ngày hôm nay.
Dứt lời anh biến mất sau cánh cửa.
* * *
- Tai nạn xảy ra do một chiếc xe vận tải muốn vượt một chiếc xe vận tải khác nên đổi tuyến và lách ra tuyến giữa, nhưng không ngờ chiếc xe vận tải bên trong cũng lại bất ngờ đổi qua tuyến giữa thành ra chiếc xe vận tải ngoài bị ép phải đâm thẳng ra tuyến ngoài cùng, tài xế thắng không kịp nên đầu xe lao thẳng vào bên phải đầu xe người Việt Nam đang chạy tuyến ngoài, khiến chiếc xe Việt Nam bị đâm tung vào thành tường ranh giới đường, lộn ngược hai vòng, bắn xa thêm 100 thước trước khi dừng hẳn. Cũng may xe không nổ. Một số xe sau đâm vào chiếc xe vận tải đó, và dồn ứ lại trên xa lộ. Cánh cửa bên phải phía trước xe Việt Nam móp nát vào trong, đầu người già bị va chạm mạnh vào khung xe, người tài xế và hai thiếu niên bị dồi như bột bánh mì, cả 4 đều bị thương nặng.
Lời viên cảnh sát công lộ vừa thuật lại khiến mọi người chết lặng. Bà Bảy đứng không nổi bỗng quỵ xuống, Chúc và Khanh vội đỡ bà ngồi vào dãy ghế trong phòng đợi. Má của Đạt hỏi giồn :
- Rồi bây giờ họ có sao không ?
Viên cảnh sát trả lời :
- Họ đang trong phòng cấp cứu, tôi không biết gì hơn !
Nói xong, chừng không thấy ai hỏi gì nữa, viên cảnh sát bỏ đi. Vinh quay sang cha mẹ của hai em đoàn sinh, anh muốn cất tiếng nói, nhưng nghẹn lời không nói được, ba của Phú như cảm thông với anh, liền vỗ vai anh rồi ra hiệu cho mọi người yên lặng ngồi đợi tiếp.
* * *
Hai ngày căng thẳng đầy ngột ngạt trôi qua, hai ngày nơi phòng thăm viếng của bệnh viện không ngớt người Việt Nam lui tới thăm hỏi các nạn nhân tai nạn, người trong chi hội và trong gia đình Phật tử thì lúc nào cũng túc trực thay phiên nhau đến đó, người đồng hương của cộng đồng cũng lui tới thăm viếng hỏi han, khiến các nhân viên y tá người Pháp cũng lấy làm lạ là sao 4 nạn nhân này lại có nhiều thân nhân đến thế !
Rồi chuyện gì đến đã phải đến : Thắng bị trật cổ, gẫy tay trái và trật một bên chân trái, cả ba nơi đều phải bó bột, tuy nhiên anh là người hồi tỉnh trước nhất, ngay cuối ngày đầu tiên. Kế đến Phú và Đạt, cả hai đều ở sau xe, do lúc xe bị lộn đều bị trật chân và lọi tay, cũng phải bó bột, và tỉnh dậy sau Thắng vài giờ. Hai em còn nhỏ, khi tỉnh lại bị đau nên khóc rưng rức. Chỉ có ông Bảy là nặng nhất : bể xương sọ, gẫy chân, ông vẫn mê man, vết thương trên đầu vẫn chảy nước, mặt ông sưng húp híp. Đến sáng ngày thứ 3 sau khi tai nạn xảy ra, ông trút hơi thở cuối cùng do chấn thương quá nặng. Thi hài được đưa vào phòng lạnh chờ giờ tẩm niệm.
* * *
Sau khi mọi nghi lễ chấm dứt, Thầy về hộ niệm cùng ban trị sự chi hội đọc lời tán thán công đức ông Bảy, hơn trăm người dự tang lễ đều bùi ngùi xúc động. Bà bảy khăn ngang áo xô trắng ngồi khóc thút thít, Khanh cũng áo xô trắng, mũ, gậy đứng kế bên. Đàng sau ban trị sự là toàn thể huynh trưởng và đoàn sinh gia đình Phật tử đồng phục chỉnh tề nghiêm trọng tiễn đưa bác Gia trưởng. Thắng ngồi xe lăn, nhờ một đoàn sinh đẩy, anh cũng cố đến tiễn biệt ông Bảy lần cuối. Vinh thay mặt anh em đọc lời tiễn đưa ông Bảy, tiếng anh nghẹn dần và cắt khúc nhiều đoạn :
- ...Với lời từ hoà, bác đã chỉ bảo chúng con từng điều từng điều một.... bác thương sót chăm lo cho chúng con từng ly từng tý .... mỗi khi anh em chúng con lầm lỗi, bác luôn tha thứ cho chúng con trong tình thương yêu vô bờ bến ....
- Bây giờ .... chúng con có đốt đuốc tìm khắp nơi cũng chưa chắc tìm được một bác Gia trưởng thư hai như vậy !!!
Vinh tắt nghẹn lời, cố dồn nén xuống, anh tiếp :
- Hết rồi, thế là hết rồi, bác ơi, thế là hết rồi !!!
Và anh khóc nghẹn ngào, vợ anh liền nắm tay kéo anh xuống. Ông chi hội trưởng nhìn người nhân viên nghĩa trang ra hiệu là nghi thức đã xong, quan tài có thể đưa vào giàn thiêu. Chúc liền lách mình đến bên linh cửu người quá cố rút lại chiếc cờ đoàn vẫn phủ trên nắp quan tài từ hôm niệm ông Bảy đến nay, anh xếp lại, lẩm bẩm :
- Từ giã bác Bảy, mùa Vu Lan năm nay, chúng con không còn bác nữa, bác ơi !!
Rồi anh để mặc cho các giọt nước mắt thi nhau chảy xuống. Tiếng máy chạy, chiếc quan tài từ từ được đưa vào đường hầm dẫn vào giàn thiêu. Bà bảy vẫn khóc, Khanh đứng cầm hình ông Bảy và bát nhang lặng lẽ gục đầu. Nhiều tiếng sụt sịt nổi lên đó đây hòa với tiếng niệm Phật không ngớt của Thầy và ban hộ niệm : "Nam mô Cực lạc Thế giới Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật"
(1) accident : Tiếng Pháp có nghĩa là "tai nạn"
23/11/09
Lớn Dần
Từ Khoa
phóng lớn
Dũng phập phồng hồi hộp, trống ngực đập thình thịch, cái can đảm như tên của nó mỗi khi hướng dẫn đội Thiếu nam thi hành công tác ngày Dũng, chẳng biết tan như mây khói hồi nào.
Thật ra Dũng cũng rất dũng cảm khi nhận lãnh công tác đoàn giao xuống cho đội, là Đội trưởng đội thiếu nam trong Gia đình Phật tử Chánh Đạo, nó thường hoàn thành xuất sắc công việc điều hành đội và luôn tự giác trong mọi công tác, nhưng cái dũng trong con người nó được các anh chị huynh trưởng thương mến là can đảm nhận khuyết điểm của mình và chịu trách nhiệm về mình khi trong đội có đội sinh vi phạm lỗi. Cũng do sự can đảm này mà Dũng được các bạn trong đội quý mến. Biệt danh "Dũng cáy" từ lâu cũng phai mờ, chẳng còn ai gọi, các anh chị trong gia đình luôn nêu cao gương can đảm của Dũng.
Vinh dự nhất là có lần Đoàn đi trại hè tại một chùa dưới Lái Thiêu, Bình Dương. Buổi trưa, cả bọn, đứa thiu thiu ngủ, đứa nằm xem truyện tranh Đôrêmôn. Dũng xin phép anh Đoàn trưởng vô xóm mua trái cây. Được đồng ý, nó cùng ba bạn cùng đoàn ra đi, khi đi ngang cầu Búng thì nghe tiếng trẻ em kêu : "Mấy anh ơi, cứu nó với !" Cả ba quay về hướng kêu, thấy một toán thiếu niên đang tắm sông có một em bị hụt cẳng đang trồi lên hụp xuống. Chạy vội xuống, chỉ kịp cởi giầy, Dũng nhẩy tùm xuống nước, một em khác lanh trí quăng thêm cho nó khúc thân chuối do bọn trẻ tắm sông mang theo làm phao. Nó bơi ra đến nơi chỉ kịp chụp tóc thằng nhỏ kéo lên, một tay bám vào thân chuối ; thằng nhỏ trồi lên mặt nước ho sặc sụa, đưa tay chụp cây chuối, rồi cả hai bơi vào bờ. Cũng may, khúc sông cầu Búng chỉ là một khúc kinh, chi nhánh của sông Vàm Cỏ Đông, nước không chảy xiết, nên một thiếu niên 14 tuổi như Dũng có thể cứu người không mấy khó khăn, thằng bé nạn nhân cũng chỉ là một đứa trẻ 12 tuổi. Thằng nhỏ thoát chết, nhưng cũng uống nước không ít, lên đến bờ một lúc thì nó đừ người rồi ói nước ra xối xả. Gia đình nó chạy ra mang nó về, họ không ngờ ân nhân cứu con họ lại là một đoàn sinh gia đình Phật tử mới 14 tuổi. Chiều hôm đó họ mang trái cây vào chùa tìm gặp Dũng cám ơn, và vinh dự thay cho đoàn sinh Thiện Hành, pháp danh của nó, được Thầy trụ trì khen ngợi trước Gia đình.
Nhưng bây giờ thì nó run vì phải đi ngang miễu cô Bé. Mới 8 giờ mà trời tối đen, không gian sũng nước, mưa nặng hạt, gió từng cơn rít qua hàng cây, tạt từng cơn thốc vào mặt, kéo tấm nylon màu xanh lá đậm che kín cổ, bước chậm lại và thỉnh thoảng quay đầu lại đàng sau xem có người lữ hành nào đi ngang đây vào lúc này để đồng hành chung với nó ; nhưng càng đến gần miễu thì vẫn không một bóng người, đường vào xóm vắng tanh, ảm đạm, lầy lội, cơn mưa ngoại ô từ chiều đến giờ vẫn dai dẳng không dứt. Tù mù ngọn đèn đường, miễu cô Bé ẩn hiện xa xa nằm dưới gốc cây bàng to xù cành lá, cái miễu lù lù một khối đen ngòm như một nấm mồ.
Dũng quét đèn pin về phía miễu mong nhờ ánh sáng sẽ làm tỏ ngôi nhà nhỏ như nhà búp bê, hòng xóa đi nét âm u để đỡ làm sợ, nhưng ánh sáng chiếu vào trong miễu thì càng nom rõ những con búp bê "cúng cô" dựng trong đó. Nó bỗng khựng lại, vì dường như có một con búp bê đưa tay ngoắc nó. Dũng rợn tóc gáy, chân nó quíu lại, nhớ lời Thầy dặn, nó niệm "Án ma ni bát di hồng". Vị trí nó đứng chỉ cách miễu có mười mét, con đường dẫn vào xóm sâu hun hút, một bên là bức tường xi-măng ngăn cách nhà máy sản xuất đường mía với con đường, một bên là những khu vườn cau, vườn trầu vùng Bà Điểm. Nó mở to mắt nhìn chăm chăm về phía gốc bàng, không phải tay con búp bê vẫy mà dường như có một bóng người đàng sau miễu, chập chờn ẩn hiện cạnh gốc cây. Miệng nó niệm to hơn, "Án ma ni bát di hồng", nó không còn dám nhìn bóng người ấy nữa mà cố chạy ù qua khỏi gốc cây, khi chạy ngang qua, linh tính cho nó biết có người đang nhìn mình. Một ánh chớp loè lên, nó quay đầu liếc ngang, một khuôn mặt đàn bà đầu tóc rũ rượi xanh mét đang đưa tay ngoắc nó vào. Nó hét lên, không còn niệm chú nữa mà cắm đầu cắm cổ chạy một mạch. Đường trơn trợt, đôi lúc suýt té, nó cố gượng đứng rồi tiếp tục lao thẳng vào xóm. Trong xóm, các nhà đều còn thức, ánh đèn nê-ông chiếu sáng ra đường khiến nó hoàn hồn, nhắm hướng nhà trực chỉ.
Chị Tư, mẹ Dũng, thấy nó về, mặt mày xanh mét, tưởng nó bị lạnh, hối hả đỡ tấm nylon cho nó, thấy nó thở hổn hển, hỏi :
- Con làm gì mà thở dữ vậy ?
- Má ơi ! Con thấy ...
- Thấy cái gì ?
- Con thấy cô Bé ngoài miễu má ơi ! Ghê quá má ơi !
Anh Tư đang ngồi đọc báo trên chiếc bàn cạnh đó, buông tờ báo xuống, ngước mặt lên :
- Thiệt không ? Hay thần hồn nhát thần tính ? Mà sao hôm nay sinh hoạt gì mà về trễ vậy con ?
Trong không gian ấm cúng, sáng sủa của gia đình, Dũng hoàn hồn kể :
- Dạ, tại hôm nay ngày Dũng, cả Đoàn con đi giúp một xóm cạnh chùa khiêng đá lấp mấy ổ gà để bà con trong xóm đó đi lại đỡ lầy lội, khi về đến chùa thì trời xập mưa, con định nán lại cho tạnh mưa mới về, nhưng mưa hoài không dứt, nên sau đó con mượn Thầy tấm mủ này để về thì trời đã tối. Anh đoàn trưởng định chở con về tận nhà, nhưng vì nhà mình gần chùa nên con xin đi bộ về một mình. Ai dè khi đi ngang miễu cô Bé, con thấy cổ ba ơi ! Ghê quá !!
Quay sang chị của Dũng từ nãy đến giờ vẫn đứng nhìn thằng em, anh Tư nói tiếp :
- Hoa, con lo dọn cơm cho em ăn đi con.
Tuy không tin chuyện ma quỷ, nhưng anh Tư không phải đã không nghe bà con trong xóm, nhất là chị Tư và con gái anh, thường kể về chuyện ma ở miễu cô Bé.
Cách đây hơn năm, cô Bé con gái út của ông bà Sáu Độ ở xóm trong làm thợ dệt tại mấy hãng dệt tư ở Hóc Môn đi làm về bằng xe đạp. Sắp đến nhà máy đường, chuẩn bị quẹo vào con đường dẫn vào xóm thì cô bị một bọn du đãng đua xe, phóng xe trên quốc lộ 1, đoạn Hốc Môn - Bà Quẹo đụng trúng. Chiếc xe đạp văng ra xa, cong queo, còn cô Bé té đập đầu xuống đất chết tức thì. Thiệt tội nghiệp cho cô Bé, nhờ có người bên đường ghi được số xe thủ phạm, ông bà Sáu tức quá khởi tố, công an truy tìm được hắn. Nhưng cái thằng khốn nạn đó lại là con của một thiếu tá công an tại sở công an thành phố, nên toà án nhân dân huyện Hốc Môn cũng chỉ xử phạt qua loa và bắt tên nọ bồi thường cho gia đình nạn nhân hai triệu đồng cho xong chuyện. Ông Sáu không chịu, ném hai triệu vào mặt mụ Chánh án ủy ban huyện, rồi cầm đơn ra về. Ông ta quyết định kiện lên đến thành phố, nhưng rồi sau ba tháng lê lết hết tòa to tòa nhỏ, sanh mạng con gái ông cũng chỉ được đánh giá bằng tiền, từ hai triệu thành năm triệu, còn cái thằng khốn nạn kia vẫn ung dung sống phây phây trên đường phố. Ông bà Sáu đau lòng đứt ruột, một thời gian sau ông bà bán nhà, dọn về ở chung với người con trai tại quận tư bên Khánh Hội.
Thảm cảnh xảy ra cho ông bà Sáu làm chòm xóm mủi lòng thương xót cho nạn nhân đến đâu thì mọi người cũng phải quên để chạy theo đà mưu sinh cuộc sống. Tưởng rằng như vậy đã êm ả, bỗng một hôm người ta đồn dưới gốc cây bàng có ma, mà khởi đầu là những người buôn sớm bán khuya. Một đồn hai, hai đồn tư, tư đồn tám, riết rồi cả xóm ai cũng biết. Người ta cho là cô Bé chết oan, không siêu thoát được, nên hùn nhau lập miễu thờ. Những chuyện về cô Bé làm kinh hoàng các bà các cô trong xóm và nhất là đám thiếu niên cỡ tuổi Dũng. Chuyện càng ngày càng có nhiều khúc chiết ly kỳ. Có người thường thấy cô ngồi ủ rũ dưới gốc cây khóc vào những đêm mưa. Có người thì thấy cô đang làm những động tác như dệt vải vào những đêm trăng sáng, nhưng ngoạn mục hơn hết là bước chân lội nước của cô. Số là có lần trời mưa rất to, nước các cống, mương thoát không kịp nên con đường vào xóm trở nên lụt lội, ai muốn về nhà cũng đều phải sắn quần lên đầu gối để lội.
Chị Hai Lung bán chè, nhà cạnh nhà chị Tư, kể lại : "Chị Tư biết hôn, em gánh chè về nhà lúc đó mới khoảng 10 giờ chứ mấy, mưa tạnh rồi, nhưng còn phải lội vô xóm. Bình thường em lội đi đâu có sao, nhưng hôm đó em bỗng có cảm giác có người lội theo em. Tiếng nước lội bì bõm đàng sau em, em thử quay lại nhìn thì hổng có ai hết trơn. Ban đầu em tưởng đó là tiếng nước do bước chân em khuấy. Nhưng đến khi em đứng lại rồi, mà vẫn nghe tiếng nước khuấy bì bõm phía sau đều đặn như bước chân người ta lội nước. Em hoảng quá, nói lớn : Bé ơi Bé, em sống khôn chết thiêng đừng về làm cho bà con lối xóm sợ nghe em ! - Rồi túm hai cái gióng đi cho lẹ về nhà. Từ đó trưa nào gánh chè đi bán em cũng cúng cho con Bé chén chè ! ờ, mà hay lắm nha chị Tư, con Bé phò hộ cho em hay sao mà từ đó tới giờ chưa ngày nào em bán ế hết trơn đó !!! - Ngừng một chút, chị Hai thở dài - Nghĩ lại thấy tội nghiệp con Bé với hai bác Sáu quá !!"
Từ đó, thỉnh thoảng người trong xóm vẫn thường ra miễu cúng cho cô Bé, xin cổ buôn may bán đắc và nhất là đừng hiện ra làm sợ chòm xóm nữa. Không biết cổ có nghe không nhưng từ đó ít ai thấy cổ hiện ra, cho tới hôm nay thì anh chị Tư lại nghe chính thằng con trai mình thấy cổ hiện ra để nó thấy.
Gần một năm nay anh Tư và hai đứa con anh ta vừa lo lắng vừa mệt mỏi về bệnh tình chị Tư, lương công nhân ba cọc ba đồng không làm sao đủ để chữa chạy bệnh cho chị Tư hết bệnh viện nọ đến bệnh viện kia. Cũng may là anh chị cũng có ký cóp được một chút của chìm của nổi từ trước 1975, rồi cứ hết chỉ vàng nọ đến chỉ vàng kia anh mang ra bán với hy vọng là giữ được mạng sống vợ mình. Mới đầu chị Tư bị phát hiện là ung thư vú, thế là phẫu thuật phải cắt hết một bên ngực, tưởng đã thoát nhờ phát hiện kịp thời, nhưng ba tháng sau thì lại phát hiện chiếc vú còn lại cũng có mầm ung thư, lại cắt nốt phần còn lại. Và 6 tháng sau thì chị thấy đau bụng, người ta phát hiện tiếp chị bị đau gan.
Những ngày chị Tư hết ra phòng mổ lại vào phòng mổ, kinh tế gia đình phải đặt trong tình trạng thắt lưng buộc bụng. Ngoài buổi đi học, hai chị em Dũng thay phiên nhau mang cơm vào bệnh viện thăm nuôi mẹ. Dũng học buổi sáng, nên có nhiệm vụ thăm nuôi mẹ buổi chiều. Sự mệt mỏi, lo âu khiến nó không còn bị ám ảnh bởi bóng ma cô Bé mà nó thấy nữa. Có những tối từ bệnh viện về trễ, đi ngang qua miễu hồi nào nó cũng chẳng hay. Chứ hồi trước, sau lần nhìn thấy bóng ma cô Bé, nó sợ suốt mấy tháng liền. Buổi sáng nó không dám đi ngang qua đó trước 6 giờ, buổi tối nó không dám về sau 9 giờ, gặp ngày trời mưa thì ở nhà luôn. Có những lần đi trại phải khởi hành sớm, nó mang ba lô tới chùa ngày hôm trước rồi ngủ luôn ở đó. Lần nào đi trại về trễ, nó cũng ngủ lại chùa rồi hôm sau mới về nhà, còn nếu không thì nhờ anh Đoàn trưởng đưa về. Vậy mà chẳng hiểu nó trở nên gan dạ từ lúc nào không biết ? Có lẽ thêm một tuổi, cao hơn một chút, nó gan dạ hơn !
Chuyện gì cũng phải đến hồi kết thúc, bác sĩ điều trị cho chị Tư vừa báo cho anh Tư một tin khiến anh chết sững :
- Chúng tôi thành thật chia buồn cùng anh, bệnh của chị nhà đã di căn rồi, dầu đã giải phẫu và bắn xạ quang, cũng chỉ làm chị giảm đau mà thôi. Tình trạng của chị nhà, y học hiện tại đành bó tay, chúng tôi cũng đã cố gắng hết sức.
Hai tuần sau, thì chứng ung thư gan đã cướp của anh Tư một người vợ, cướp của Hoa và Dũng một người mẹ. Lúc tẩm liệm chị, tóc chị đã rụng hết, đầu trọc lóc, da đổ vàng như nghệ. Anh nhìn mặt vợ lần cuối, không than khóc nhưng nước mắt cứ tuôn dài trên má, Hoa thì gào lên gào xuống, còn Dũng ủ dột mếu máo gọi "Má ơi !". Thầy trụ trì đến làm lễ hộ liệm cho má nó, cả đoàn Thiếu nam và anh Liên Đoàn trưởng Chánh Đạo đến chia buồn cùng nó và gia quyến.
Nó là đứa con "mũ gậy" (*) duy nhất của anh chị Tư. Ngày đưa má nó ra nghĩa trang chùa Hoằng Pháp ở Hốc Môn, nó mới thật sự thấm thía nỗi đau mất mẹ, nó khóc đến nỗi tấm ảnh chị Tư cầm trên tay đầy nước mắt của nó rớt xuống. Một em ngành Thiếu nam cùng đội dẫn nó đi ngược, vì cảm xúc với nỗi đau của bạn đội nên cũng khóc theo. Cả xóm đi đưa chị Tư.
Văn nghệ lễ Vu Lan chấm dứt, thu dọn xong thì cả Gia đình Chánh Đạo đều ở lại chùa dùng cơm chiều, không khí vui ngộn buổi văn nghệ vẫn rộn ràng trong lòng mọi người, từ bác Gia trưởng đến em Oanh Vũ nhỏ nhất cũng rộn vang tiếng cười. Dũng vừa qua tuổi 16, ria mép lún phún lông măng, vóc dáng nó đã ẩn hiện nét thanh niên ít nhiều, nó cao hơn chị Hoa của nó, tính tình bỗng trầm lặng hơn. Hồi nãy nó cười nói hăng say sinh hoạt bao nhiêu thì bây giờ nó trầm ngâm bấy nhiêu. Trong khi cả Đoàn đang hối nhau ăn cơm thì nó ra sau chùa, ngồi bên hồ nước có hòn non bộ nhìn hờ hững mấy chú cá vàng lững lờ, tay rút hoa hồng trắng cài trên túi áo lam, se se cuống hồng, đoá hoa quay tròn ngược xuôi giữa hai ngón tay. Hoa hồng trắng làm nó nhớ mẹ nó. Mẹ nó ra đi đã bốn tháng rồi mà nỗi nhớ mẹ vẫn không nguôi trong lòng. Nó ước ao được gặp lại mẹ như nó đã gặp cô Bé. "Chắc chắn mình sẽ chạy đến ôm má, chứ không chạy như gặp cô Bé đâu !"- nó nghĩ vậy - "Má ơi, sao má không hiện ra cho con thấy hả má ? - Thầy nói : Bây giờ má đang ở cõi Tịnh Độ phải không ? - Thầy khuyên con cầu nguyện cho má được về đó ! - Sao đời này lại có những bịnh kỳ dị quá hả má ? Sao chưa ai tìm được thuốc chữa bệnh ung thư hả má ? - Nữa, con sẽ cố gắng học Y Dược, con muốn sau này thành bác sĩ và tìm cách chữa cái bịnh quái đản này ...!!!"
- Dũng, em suy tư gì vậy ? Sao không vô ăn cơm ?
Anh Đoàn trưởng Thiếu nam vỗ vai kéo nó về thực tại. Nhìn người anh áo lam của mình, nó đáp :
- Em không thấy đói anh à !
Như đoán được tâm sự đứa em, anh Đoàn trưởng kéo Dũng đứng dậy :
- Em nhớ má em phải không ? Thôi, hãy vui lên, má em đang ở cõi Cực Lạc mà thấy em buồn thì má em cũng buồn theo cho mà xem. Với lại em cầm bông trắng mà quên mất em còn một bông đỏ, em phải biết quý trọng bông đỏ còn lại trên áo chứ ! Hôm nay là ngày Hiếu, em đừng để ba em buồn, vô ăn cơm đi ! Ba em, các anh chị và các bạn đang đợi em, thiếu em người ta sẽ ăn không ngon miệng đâu !!!
Dũng theo anh Đoàn trưởng cùng nhau bước vào chùa. Nó lớn dần từ thể xác đến tinh thần, từng bước một vững tiến cùng gia đình áo lam. Dáng dấp nó cao gần bằng người anh áo lam của nó.
(*) : Theo tục lệ ma chay của người Việt thì tang phục của người con trai phải đội mũ vành quấn bằng rơm, chống gậy tre hay vông đi trước quan tài cha mẹ, nên thường được người đời gọi con trai bằng danh từ "đứa con mũ gậy", còn con gái là "con mũ muối".
12/11/09
BAY ĐI CÁNH CHIM LAM
BAY ĐI CÁNH CHIM LAM
Quảng Thọ
23/10/09
Ông Tư
Truyện Ngắn của Quảng Thọ
Trong xóm nhỏ vùng ven kênh nhiêu lộc, với những đứa trẻ nghèo, những người lớn tuổi thường gọi ông Tư là ông Tư gỏ đầu trẻ vì ông là một nhà giáo lâu năm và những năm gần đây khi ông không còn đi dạy vì nghĩ hưu thì ông lại tiếp tục nghề gỏ đầu trẻ bằng việc dạy kèm cho mấy đứa trẻ nghèo trong xóm. Ông dạy rất tận tình dễ hiểu, lại tốt bụng không lấy tiền mấy đứa trẻ nhà nghèo, vì có lấy lũ trẻ cũng không có tiền. Nhà chúng rất nghèo, ba mẹ chúng phải làm đủ thứ nghề để sống được ở đất Sài Gòn này, ban ngày họ bôn ba bán ve chai, đạp xe ba gác, đạp xích lô…tối đến họ lại đi làm những công việc nặng nhọc bóc vác ở các chợ cầu muối, chợ cầu ông Lãnh. Bởi vậy họ không có thời giờ để chăm sóc lũ trẻ, trong xóm chúng xem Ông như là người cha người mẹ của chúng.
- Thật tội nghiệp cho lũ trẻ quá, chúng nó có tội tình gì đâu mà phải cùng chung số phận với người lớn.
Ông thường nói một mình khi chúng tới nhà ông học chử nghĩa. Ông lo cho chúng miếng ăn khi chúng tới học và cả giấc ngủ khi chúng thấm mệt trong lúc học. Chúng ngủ say sưa dưới đất sau một ngày lang thang trên đường phố lượm những bọc ni lông, vỏ chai và giấy vụn cho Ba Mẹ chúng bán ve chai. Chính Ông lại có khác gì chúng đâu, là một nhà giáo gương mẫu mấy mươi năm mà ông lại quá nghèo, hoàn cảnh xã hội đã đưa đẩy ông phải làm những việc nặng nhọc như đạp xe ba gác, xích lô, bán vé số dạo rồi cả bóc vác. Ông vẫn không than thân trách phận mà cho đó là cái kiếp mà ông phải trả nợ đời.
- Phải chi không có cái ngày 30 tháng tư thì ông đâu đến nỗi phải sống đầu đường xó chợ thế này.
Một bác trong xóm đã nói khi tới nhà ông.
Sau năm 75 cuộc sống gia đình ông bị bế tắt, ông bị đi học tập cải tạo mấy năm vì có dính líu làm việc cho chính quyền cũ. Vợ con ông phải sống tha hương cầu thực ở nơi vùng kinh tế mới xa xôi hẻo lánh. Những năm đầu thập niên 80 làn sống người Việt vượt biển lên cao, con số lên đến hàng triệu người. Vợ con ông cũng vượt biển tìm cuộc sống mới bên kia bờ Đại Dương. Vợ ông đã chết trên đường vượt biển, còn con trai đầu ông thì qua được Mã Lai Á rổi được định cư tại Hoa Kỳ. Mấy năm đầu qua Mỹ cuộc sống của con trai ông cũng vất vả, chạy đua với cuộc sống nơi xứ người nên không có gửi tiền về cho ông, dù biết ông đang sống rất cực khổ. Có gửi về cho ông những viên thuốc tây, những chai dầu gió xanh rồi sau đó ông không thấy gửi nữa. Ông cũng không buồn, biết đó cuộc đời vay trả trả vay. Ông nghĩ trong cái hoạn nạn có khi lại là cái may. Cái tình ông tốt với mọi người trong xóm thì họ cũng tốt lại với ông, giúp ông qua khỏi những cơn bệnh lúc nắng gió trở trời. Ông còn một thằng con trai út ở bên ông, đang học lớp 12 sắp bước vào ngưỡng của Đại Học. Ông thường khen nó trước những người trong xóm:
- Cái thằng con út tui nghèo vậy mà học nên người, lại có lòng tốt thương người.
Bởi vậy dù khó khăn vất vả tới đâu, tui cũng cố gắng làm việc nuôi nó ăn học thành tài.
Biết cuộc đời có vay có trả, nhân quả luân hồi trong giáo lý Đạo Phật, nên ông rất vui vẽ và hòa đồng với mọi người. Tới đâu ông cũng giúp đỡ những người gặp hoạn nạn kém may mắn hơn ông, người mù chử thì cần ông giúp chữ nghĩa, những người không may bị cụt tay, chân thì ông giúp đi quyên tiền cho họ có đôi nạn, xe lăng tay hay một số tiền nho nhỏ. Đúng là “hoạn nạn thì mới thấy chân tình”. Bà con từ già đến trẻ trong xóm ai cũng mến ông, mến ông cái đức cái chân tình mà ông dành cho họ.
Từ ngày đất nước tiến lên kinh tế thị trường, bỏ qua thời bao cấp cổ hửu. Cuộc sống công nhân, viên chức có phần đỡ hơn trước, bộ mặt thành phố Sài Gòn có thay đổi với những con đường, nhà hàng, khách sạn, nhiều chổ ăn chơi, giải trí mọc nhiều để đón khách nước ngoài, việt kiều về làm ăn, du lịch.
Với ông Tư và những người trong xóm nghèo lao động này vẫn như ngày nào còn thời bao cấp, thậm chí còn tệ hơn khi kinh tế thị trường đã làm mất đi một số việc làm tay chân dành cho giới lao động nghèo…những con đường lớn có khách nước ngoài thì cấm cho xích lô, ba gác chạy qua những con đường đó. Ông Tư bị phạt tiền khi qua những con đường đó mà không thấy đề bản cấm hoặc bản cấm để khuất trong các cây xanh. Thật đúng đã nghèo lại càng nghèo hơn, người giàu lại càng giàu hơn. Không đạp xe ba gác, xích lô, ông chuyển qua bán vé số và chạy xe ôm. Cái tuổi của ông cũng không còn trẻ nữa, ngoài 60 ông còn bôn ba vất vã để mưu sinh và lo cho thằng con trai út của ông đang học Đại Học. Con trai đầu có gửi về cho ông vài trăm đô, ông đều để dành lo cho thằng út ăn học.
Thời buổi kinh tế thị trường sao mà nhiều thứ tiền học phí không biết từ đâu ra, muốn cho con em học được những trường khá giỏi, thì Phụ huynh phải lo tiền cho con em họ được vào những trường có tiếng tăm, thầy cô dạy giỏi cấp thành phố.
Thời nay con em họ phải tốn cả bạc triệu để học những trường tốt, và muốn cho con em họ đậu các học kỳ, tốt nghiệp thì phải học thêm những giờ phụ đạo… còn những người nghèo không có đủ tiển đóng học phí phải đành nghỉ học hoặc phải học những trường có nhiều học sinh dốt. Ngành giáo dục đã như thế thì lấy đâu ra những học sinh giỏi, những nhân tài cho đất nước.
Mỗi lần nghĩ đến đây ông Tư lại lắc đầu ngao ngán:
- Xã hội bây giờ sao mà trái ngược, những viên chức nhà nước thì giàu có, sung sướng, còn người dân xóm lao động thì càng cực khổ. Cái nhà của UBNN Phường, Quận to gấp mấy lần những căn nhà trong xóm.
Có người trong xóm hỏi ông:
- Bác Tư có nguời con trai bên Mỹ, sao không qua Mỹ đoàn tụ, lại sống ở đây cực khổ vậy?.
- Bác cũng không muốn đi Mỹ để làm gánh nặng cho nó. Với lại bác còn thằng út, nó có hiếu với bác lắm, bác không nở rời xa nó.
Cuộc sống mưu sinh vất vả làm cho ông không nghĩ ngơi được nhiều, ông quay về với tâm linh tôn giáo giúp ông an trú trong hiện tại. Ông và thằng con trai Út thường đến Chùa ở ngoài đầu hẻm, một ngôi Chùa nhỏ nhưng đầy trang nghiêm và ấm cúng. Ông đến Chùa vào mỗi tuần Chủ Nhật, những ngày có lễ vía lớn Phật Đản, Vu Lan, Rằm tháng giêng… ông đều tới giúp làm công quả, phụ các cô bác trong đạo tràng soạn trai tăng…
Bọn trẻ thường hay lui tới trong Chùa phụ giúp ông và Đạo Tràng trong những ngày lễ vía, ông rất thích chúng. Bọn trẻ đó là thành viên của đơn vị Gia Đình Phật Tử(GĐPT) thành lập tại Chùa được hơn 10 năm. Các anh chị em trong Ban Huynh Trưởng có mời ông làm Gia Trưởng, mấy lần ông đều từ chối, vì ông cho nhiệm vụ đó quá lớn lao với ông, ông sợ không hoàn thành được nhiệm vụ mà bọn trẻ yêu cầu ông.
- Bác Tư cứ nhận đi cho chúng cháu yên lòng, công việc cũng không có nặng nhọc lớn lao gì đâu. Chúng cháu và lũ trẻ trong Chùa rất cần đến Bác, Bác làm Gia Trưởng thì rất thích hợp. GĐPT sẽ càng ngày đông vui hơn khi có bác.
Nhiều lần từ chối không được, ông đành chấp nhận làm Bác Gia Trưởng của GĐPT.
Công việc Gia Trưởng không có lương bổng này cũng nhẹ nhàng không như ông nghĩ nặng nhọc lúc ban đầu.
Ông lại thích cái tính phá phách và hiểu được tính tình của lũ trẻ trong chùa qua những năm ông làm công quả, nên ông được GĐPT mời làm Gia Trưởng.
Những lần sinh hoạt, các em Oanh Vũ cứ chạy tới ríu rít bên ông, đòi ông kể chuyện Đạo, chuyện tiền thân của Đức Phật. Những lúc rảnh rổi sau những cuốc chạy xe ôm ông đều đem sách Phật Pháp, Kinh ra đọc nên ông biết rất nhiều chuyện Đạo, chuyện tiền thân của Đức Phật Thích Ca. Những chuyện “Bà già cúng đèn”, “con chim Oanh Vũ…” ông đều đem ra kể những đứa trẻ trong xóm và các em Oanh Vũ nghe.
Từ khi ông làm Gia Trưởng đến nay, ông giới thiệu những đứa trẻ trong xóm đến Chùa tham gia vào GĐPT mỗi lúc môt đông. Con trai út của ông cũng đã tham gia vào GĐPT và là Huynh Trưởng rất mẩu mực.
Bất cứ những công việc đối ngoại, những công tác Phật sự của Chùa và Giáo Hội, ông đều hoàn thành tốt. Từ những trại hè của đơn vị đến những trại Dũng, Hạnh, Hiếu, họp bạn, huấn luyện của Tỉnh tổ chức, ông đều có mặt để cổ vỏ tinh thần cho bọn trẻ.
- Ông Tư đã 70 tuổi mà trông ông còn khoẻ và vui vẽ lắm
Mọi người trong Chùa và các cô bác trong xóm đều nói vậy.
Vậy mà một ngày kia ông đã ngã bệnh, ông trút hơi thở cuối cùng trên đường tới bệnh viện vì lao lực quá nhiều. Anh chị em Ban Huynh Trưởng và các em đoàn sinh trong đơn vị GĐPT đã lo tang lễ cho ông. Mọi người trong xóm ai cũng thương tiếc. Con trai đầu từ Mỹ về với vợ và đứa con trại 10 tuổi, chỉ kịp đưa tiễn hương linh ông về nơi Cực Lạc.
Ông mất đi để lại cho đời, cho bọn trẻ GĐPT nơi xóm ông, một gia tài qúy giá, không có gì có thể mua được. Đó là mở rộng lòng thương yêu mọi người, giáo dục thế hệ trẻ, cải tạo xã hội theo tinh thần Phật giáo./.
25/9/09
Ông Thổi
TÂM KHAI SƠN
A! Ông Thổi tới rồi! – Giọng bé Tâm reo lên mừng rỡ. Đám trẻ con ngưng lại trò chơi trốn tìm. Chúng quay ra, đổ dồn các cặp mắt về phía ông lão vừa đến. Ông xấp xỉ bảy mươi, dáng nhỏ nhắn, khuôn mặt đầy vết chân chim, duy chỉ có đôi chân thì nhanh thoăn thoắt. Bọn trẻ vây lấy ông, hỏi han rối rít. Ông đáp lại bằng nụ cười móm sọm rồi nhanh nhảu dắt chiếc xe đạp cũ kỹ bước đi.
Xóm hẻm cụt này từ lâu đã quen thuộc với hình ảnh một ông lão bán bong bóng. Không ai biết quê quán ông ở đâu. Người ta chỉ thấy chiếc xe đạp và hàng chục quả bóng đủ màu đủ sắc là gia tài bên mình ông. Gặp bọn trẻ xóm hẻm cụt, ông thường tặng chúng vài ba quả bóng, sau đó ông dẫn xe ra ngoài công viên đi bán dạo. Tên họ của ông ư ? Cũng không ai biết ! Người ta đã quen miệng gọi “Ông Thổi”. Có lẽ điểm đặc biệt của ông là không dùng dụng cụ nào mà chỉ dùng miệng thổi bong bóng nên cái tên “Ông Thổi” nghe ra thật hợp lý.
Ở cuối con hẻm cụt có ngôi chùa nho nhỏ, thầy Thiện Không là trụ trì. Vào những dịp lễ Đản sanh, thầy thường đặt Ông Thổi làm thật nhiều bong bóng để trang hoàng vườn Lâm Tỳ Ni. Mỗi lần như thế, Ông Thổi đều không nhận tiền. “Làm được việc gì có công đức dù nhỏ thì cũng nên làm, nghen các con !” – Bọn trẻ long lanh đôi mắt nhìn ông nói.
Chiều chiều, bán xong bong bóng, Ông Thổi lại đến với bọn trẻ. Chúng ngồi vòng tròn quanh ông. Ông Thổi có rất nhiều câu chuyện hay và lạ. Bọn trẻ luôn tròn xoe mắt trước mỗi tình tiết trong truyện mà chúng cứ ngỡ như đang diễn ra bên cạnh mình vậy. Có lần ông kể chuyện Devadatta rắp tâm hại Phật, bọn trẻ cứ tức anh ách. Nhưng khi ấy ông lại ôn tồn bảo:
- Chính vì lòng từ bi của Đức Phật mà Devadatta đâu thể hãm hại Phật. Ông muốn các con nuôi dưỡng lòng từ bi, thay vì cứ căm giận Devadatta !
Câu chuyện hiếu thảo của chim Oanh Vũ được bọn trẻ nhớ nhiều nhất. Một bữa nọ, Ông Thổi kể chuyện bà lão cúng đèn. Sau câu chuyện, thằng Bi buột miệng:
- Ông ơi ! Bữa kia có bà già nào đó gặp con hỏi đường đến chùa.
- Sao nữa, con ? – Ông nhìn vào mắt Bi.
- Con thấy bà già đó rách rưới, dơ bẩn thì đến chùa làm gì ? Bả nói đến chùa đóng góp tiền đúc chuông. Con bảo là bà già xạo. Bà đến đó xin tiền thì có, chứ làm gì có đủ tiền để cúng chùa ! - Thằng Bi im lặng hồi lâu rồi nó tỏ vẻ ân hận:
- Con thấy bà già đó buồn lắm ông ơi !
- Vậy à !
Ông Thổi mỉm cười hiền hậu:
- Hình dáng bên ngoài không đủ đánh giá con người đâu !
Bi ấp úng :
- Dạ... Hôm nay ông kể chuyện bà lão cúng đèn làm cho con muốn khóc luôn vậy đó ! Con thấy hối hận quá ! Con... con… xin lỗi nha ông ?
Ông Thổi nhìn vào hai tròng mắt đen lay láy của Bi:
- Ừ ! Con biết lỗi vậy là tốt lắm đó !
Chợt ông thở dài, nhìn xa xăm:
- Làm công đức phải có tấm lòng, con à ! Bà lão tuy nghèo nhưng tấm lòng thì giàu lắm !
Trước khi chia tay bọn trẻ, ông thường giúi vào tay chúng khi cái bánh tét, khi bánh đậu xanh, lúc thì miếng kẹo dừa hay có lúc là vài trái mận đỏ au. Bọn trẻ thương ông. Chúng xem ông như là người thân ruột thịt.
Hai ngày rồi sao Ông Thổi không đi ngang xóm ? Bọn trẻ buồn thiu. Cái vòng tròn thân mật mỗi chiều giờ đây bỗng quạnh quẽ lạ lùng. Nét đượm buồn in thật rõ trên gương mặt chúng. Bọn trẻ rủ nhau tới chùa vì thầy Thiện Không là người duy nhất biết nơi sinh sống của Ông Thổi. Trước đây, cứ tối đến là Ông Thổi hay lên chùa tụng kinh. Bọn trẻ thập thò ngoài cửa nhìn thấy Ông Thổi và thầy Thiện Không ngồi nói chuyện với nhau rất thân thiện và gần gũi.
- Ông Thổi ngã bệnh rồi tụi bây ơi ! – Thằng Trí hớt hơ hớt hải từ vườn chùa chạy ra – Thầy Thiện Không đang hái cam ở ngoài vườn đó !
- Tụi mình sẽ đi thăm ông Thổi nghen. – Trí đề nghị.
- Ừ, đi ngay chứ ! – Dũng hưởng ứng.
- Mình đi cùng thầy Thiện Không hả anh ? – Bé Tâm ngước nhìn thằng Trí như đang chờ đợi một sự đồng ý.
- Chứ sao nữa ? – Dũng đáp ngay.
- Dạ, tụi em cũng đi luôn ! – Trí, Tâm và Bi hồ hởi nhất.
Ngày xưa, có hai người bạn áo Lam, sinh hoạt Gia Đình Phật Tử từ những ngày đầu còn phôi thai. Miền Trung cằn cỗi đã hằn sâu trong ý chí họ quyết tâm dắt dìu tổ chức đi lên. Tuổi hai mươi phơi phới sức trẻ thì họ đã chọn cho mình mỗi người một ngả rẽ. Một người xuất gia, lấy lý tưởng sứ giả Như Lai làm lẽ sống. Một người vẫn tiếp tục khoác chiếc áo màu lam, làm nhịp cầu nối Đạo với Đời. Cả hai đều tận tuỵ với con đường mình đi tới. Vị tu sĩ trẻ ngày nào đã trở thành một bậc tôn túc với phẩm hạnh và uy đức cao tột. Chàng áo lam kia cũng nở một nụ cười kiên định khi gánh vác một mái Gia Đình. Rồi mùa xuân năm nọ, dông tố của cuộc đời đã đẩy họ lưu lạc vào Nam. Cả hai bặt tin nhau từ dạo ấy.
Nhà Ông Thổi lụp xụp bên bờ kênh đen ngòm. Bọn trẻ cố nín thở nhưng mùi tanh của bùn cứ vởn vơ trước mũi chúng, như trêu ngươi, như thách thức sức kiên nhẫn của con người. Ông Thổi nghèo quá ! Trong nhà chỉ vỏn vẹn chiếc chõng tre, cái kệ sách xiêu vẹo đầy những sách và một bàn thờ Phật nhỏ nhưng được lau dọn sạch sẽ nằm chính giữa căn nhà. Tất cả đều cũ rích, bụi thời gian đã khảm vào đó một thứ đồi mồi có một không hai: cái nghèo cùng tận.
Ông Thổi lật đật nhỏm dậy vái chào thầy Thiện Không. Bọn trẻ ùa quanh ông nhưng thầy Thiện Không khẽ đưa ngón tay trỏ lên miệng, ra hiệu giữ yên lặng. Thầy Thiện Không nắm lấy bàn tay gầy guộc của Ông Thổi:
- Huynh sao rồi ?
- Dạ... con… À ! Việc quyên góp đúc chuông đã hoàn mãn chưa thầy ?
- Gần xong rồi, huynh à !
- Mô Phật !
Bọn trẻ yên lặng. Chúng nhận thấy Ông Thổi yếu lắm. Mùi bùn xông lên ngột ngạt khắp nhà. Nhưng lạ chưa, Ông Thổi và thầy Thiện Không vẫn thản nhiên như không.
- Mùi bùn khiến con nhớ đến bài ca Sen trắng lắm, thầy à !
- Lâu rồi huynh chưa được hát bài đó thì phải ?
- Cả hai thầy trò mình chứ !
- Ừ !
Ông Thổi quay xuống bọn trẻ:
- Các con hát bài Sen trắng đi !
Bài ca Sen trắng mà Ông Thổi vừa dạy bọn trẻ cách đây vài tuần, là một trong nhiều bài ca ông dạy kỹ lưỡng nhất. Ông đã tạo ra khung cảnh có một không hai cho bọn trẻ hoà mình vào bài hát. Đó là cho chúng thử tưởng tượng mình đang đứng giữa đầm sen thơm ngát. Khi tiếng ca cất lên làm xuất hiện những làn gió mát thật lớn nhưng mượt mà thổi bay hương sen khắp nơi. Tiếng ca không còn ngôn ngữ, không còn hiện hữu người hát hay người nghe. Tiếng ca là hương thơm của sen, là hương thơm trong trẻo mùa xuân tinh khiết. Sen trắng vang lên, tất cả đang mang trong mình thiên hình vạn trạng của đất trời bỗng phút giây quyện vào làm một…
Nghe lời ông, bọn trẻ đứng cả dậy, chúng đưa tay lên bắt ấn chào rồi hát cho Ông Thổi và thầy Thiện Không nghe. Thằng Trí đứng thật nghiêm, bắt giọng:
- “Kìa xem ...” hai ... ba ...
- Kìa xem đoá sen trắng thơm, nghìn hào quang chiếu sáng trên bùn ...
Bài ca được cất lên, đứa nào cũng rạo rực trong lòng. Có cái gì đó thiêng liêng lắm chạy ngang con tim bọn trẻ mà chúng chưa hề được lần nào như vậy. Bài ca như át hẳn mùi bùn, hương đạo thấm đẫm trong từng ca từ của Sen trắng như bung ra ôm chặt không khí nhà Ông Thổi.
Ông vỗ tay khen bọn trẻ hát hay, thầy Thiện Không vẫn luôn giữ một nụ cười đôn hậu trên môi. Ông Thổi chỉ bọn trẻ vào bếp lấy mấy cái bánh lá gai mà chia nhau ăn. Nhưng chúng ngồi xuống, lặng thinh. Đứa nào cũng muốn ngồi bên ông và kết thành vòng tròn nho nhỏ như mỗi buổi chiều ở cuối xóm. Ông Thổi nhìn sang thầy Thiện Không:
- Thầy à ! Việc con bàn với Thầy mấy hôm nay, Thầy tính chưa ?
- Xong rồi huynh ơi ! Tôi định chủ nhật tới sẽ chính thức đưa bọn trẻ này vào chùa làm chim Oanh Vũ. À ! Còn chuẩn bị làm lễ quy y cho mấy chú chim này nữa chứ !
Thầy Thiện Không và Ông Thổi cười thật to. Bọn trẻ thì nhảy cỡn lên :
- Con thích chim Oanh Vũ lắm !
- Con cũng thích nữa !
- Vậy là dòng chảy Lam này đã bắt đầu được liên tục rồi đó, phải không huynh ? – Thầy Thiện Không vỗ nhè nhẹ vào đầu bé Tâm.
Ông Thổi nhắm mắt lại. Mộng hay thực, sống hay chết không còn là nỗi trăn trở của ông nữa. Ông thấy màu lam là màu dễ hoà đồng nhưng không dễ biến tan. Bấy lâu nay, Lam sống ẩn tàng trong lòng dân tộc. Vượt qua mọi gian nan thời cuộc, mọi khốn khó dòng đời, Lam tự trở mình đứng dậy bước vào dòng chảy của vận mệnh dân tộc và đạo pháp.
Ông Thổi nhắm mắt lại, một hơi thở vụt bay. Trên môi, nụ cười còn phảng phất.
Giới Thiệu Blog Tình Lam
Nơi đây giao lưu kết nối anh chị em áo lam khắp mọi nơi.
Nơi cảm nhận những cảm xúc vui buồn của dòng máu Lam.
Nơi mang đến những nét đẹp của tình lam, cùng đồng hành sát cánh với anh chị em áo lam Quốc Nội & Hải Ngoại.
Tình Lam mong càng ngày phong phú hơn với các bài viết sưu khảo từ các nơi.
Xin hãy cùng chung tay chia sẻ với Tình Lam cho vòng tay thân ái luôn mãi kết chặt tình lam.
"Mỗi người là một cành hoa bay về đây góp gió
Làm thành vườn hoa,vườn hoa Tình Lam chúng mình"

Tình Lam rộng khắp bốn phương
Kết tình huynh đệ thân thương một nhà


