Hình ảnh được góp nhặt trong các ngày Cung Nghinh Phật Ngọc Hoà Bình cho Thế Giới tại San Jose: 15/9 an vi, 18/9 Lễ Khai Mạc, Pháp Hội Hoa Đăng cầu nguyện hoà bình và Pháp Hội Hoa Đăng 19/9/2010 tại Hội Trường Hoa Bình.
Nơi mang đến nét đẹp Phật Giáo & GĐPT
Hình ảnh được góp nhặt trong các ngày Cung Nghinh Phật Ngọc Hoà Bình cho Thế Giới tại San Jose: 15/9 an vi, 18/9 Lễ Khai Mạc, Pháp Hội Hoa Đăng cầu nguyện hoà bình và Pháp Hội Hoa Đăng 19/9/2010 tại Hội Trường Hoa Bình.
Sau nghi thức Lễ Phật vào lúc 3:00 giờ chiều ngày 15/9/2010, 12 chiếc xe hoa Cung Nghinh Phật Ngọc cùng xe của Chư Tôn Đức và quý Phật Tử Ban Tổ Chức đã diễu hành qua Toà Thị Chính và các đường phố có đông người Việt cư ngụ tại San Jose, đây là lần đầu tiên duy nhất Phật Ngọc được diễu hành xe hoa vòng thành phố San Jose. Mỗi con đường đi qua, người Việt và người bản xứ đã ra đường chào đón rất nồng nhiệt thành kính. Sau 3 tiếng vòng quanh thành phố, Tôn Tượng Phật Ngọc đã đến Hội Trường Hoà Bình an vị, có rất đông đồng hương Phật Tử đã đến tham dự.
Quảng Thọ ghi nhận
San Jose, California
www.gdptthegioi.org
Ngày 12 tháng 9 - 2010 tuần lễ cuối cùng trước ngày cung nghinh Phật Ngọc, mọi công việc chuẩn bị đã được gần như hoàn thành. Ngoài khuôn viên Hội Trường Hoà Bình với rừng cờ Phật Giáo,Cổng Chào,Xe Hoa thật đẹp mắt. Bên trong Hội Trường nơi Lễ Đài đã được thiết trí rất trang trọng.
GĐPT Chánh Tâm và các đoàn Phật Tử, đoàn Lân trong đội hình cung nghinh đã đến đây tổng dợt chuẩn bị cho Lễ Khai Mạc Cung Nghinh Phật Ngọc,đạo tràng đã đến tập dợt tụng kinh cho Pháp Hội trong không khí hân hoan cúng dường Đại Lễ Cung Nghinh Phật Ngọc.
Mỗi nơi khi Phật Ngọc đến, tất cả người con Phật đều có cảm xúc thành kính và hân hoan được chiêm bái đảnh lễ Tôn Tượng Phật Ngọc Hoà Bình cho Thế Giới cùng với sự mầu nhiệm mà Phật Ngọc đã mang đến.
Là người con Phật được dịp tham gia vào Ban Tổ Chức, chúng tôi mong muốn được đóng góp hết mình cho công việc Phật Sự thiêng liêng đầy ý nghĩa.
Xin thành tâm kính chúc cho Đại Lễ Cung Nghinh Phật Ngọc hoàn thành viên mãn.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Quảng Thọ
Ta làm và nói sai, nhưng ta lại được nhiều người khen ngợi mỗi ngày, như vậy mỗi ngày đi qua đời ta là mỗi ngày đưa đời sống của ta đi dần vào bóng đêm và từ bóng đêm này dẫn ta đi tới bóng đêm khác.
Ta làm đúng và nói đúng, nhưng ta lại bị nhiều người chỉ trích mỗi ngày, và như vậy mỗi ngày đi qua đời ta là mỗi ngày đưa ta từ bóng đêm bước ra ánh sáng và từ ánh sáng này, ta bước tới ánh sáng khác.
Chân lý không thuộc về sự khen ngợi hay chỉ trích, mà thuộc về ở nơi người nào thấy và biết đúng, nghe và cảm nhận đúng, sống đúng, nói và làm đúng.
Lằn mức giữa đúng và sai thật vô cùng vi tế và thẳm sâu, nên có những suy nghĩ, có những việc làm của ta, ở độ tuổi nầy thì đúng, mà bước qua độ tuổi khác lại là sai; ở buổi sáng thì đúng, mà ở buổi chiều thì sai; ở phút trước thì đúng, mà ở phút sau thì sai; đối với hoàn cảnh nầy thì đúng, nhưng ở hoàn cảnh khác thì sai; đối với người nầy thì đúng, mà đối với người khác thì sai, và cùng một vấn đề, mà ta nhìn nó từ góc độ nầy, thì nó đúng, nhưng ta nhìn nó với một góc độ khác thì sai.
Nên, đúng và sai là tùy theo mức độ hiểu biết của ta, liên hệ đến ô nhiễm hay thanh tịnh, sâu hay cạn, rộng hay hẹp của tâm ta.
Hễ tâm ta càng ít ô nhiễm và càng ít bị xáo động, thì cái biết của ta đi dần tới với cái đúng và ta có thể thường trú ở trong cái đúng. Hễ tâm ta bị ô nhiễm và xáo động, thì cái biết của ta càng lúc càng đi dần tới với cái sai lầm và ta có thể cộng trú thường trực với cái sai lầm ấy.
Ta thấy đúng và biết đúng đối với mọi sự hiện hữu, là do tâm ta yên lắng, không bị xáo động bởi các vọng tưởng, hoàn toàn không bị lay động và thụ động bởi các ngã tưởng và các dục. Ta sống với tâm như vậy, thì lúc nào và ở đâu, ta cũng không bị hoàn cảnh sai sử và không bị các hình tướng đánh lừa. Ta nghe với tâm yên lắng, không bị xáo động bởi các tưởng, thì ở đâu và lúc nào, ta cũng có sự tự do đối với cái nghe và ta không bị mọi ngôn ngữ và âm thanh đánh lừa. Ta cảm nhận từ mọi sự xúc chạm với tâm yên lắng và không bị xáo động đối với các vọng tưởng, thì sự cảm nhận của ta là sự cảm nhận đúng, nên lúc nào và ở đâu, ta cũng không bị các cảm giác và tri giác đánh lừa.
Ta nuôi dưỡng đời sống bằng tâm yên lắng và không bị xáo động, thì lúc nào và ở đâu, ta cũng có tự chủ, không bị các loại ăn mặc và các thực phẩm ăn uống đánh lừa. Ta nuôi dưỡng đời sống bằng tâm chân thực, bằng sự hiểu biết sáng trong, bằng những hành động và những lời nói đúng đắn, thì lúc nào và ở đâu, ta cũng có đảm lực để sống, ta không bị thời gian khuất lấp, không bị những sự sợ hãi chi phối và không bị những sự hư dối đánh lừa.
Ta làm đúng, thì nhân quả đến với ta đúng như những gì ta đã làm. Ta làm sai, thì nhân quả cũng đến với ta đúng như những gì ta đã làm sai.
Ta muốn ăn cam, ta trồng cam, hội đủ nhân duyên, cam sẽ cho ta trái ngọt. Ta muốn ăn cam mà gieo hạt quýt, hội đủ nhân duyên, quýt sẽ ra trái cho ta mà không phải là cam.
Như vậy, ta thấy đúng, biết đúng và làm đúng, thì nhân quả đúng tự đến với ta. Ta thấy biết sai và làm sai, thì nhân quả đúng như với cái sai cũng tự đến với chúng ta.
Ta muốn ăn cam mà lại trồng quýt và chăm sóc quýt, hội đủ nhân duyên, thì ta chỉ có thành quả của quýt mà không phải là thành quả của cam, như vậy ta bị rơi vào tình trạng khổ đau là do ta mơ ước mà không thành.
Mơ ước không thành là do tâm ta, mà không phải do nhân quả hay do cuộc đời. Cuộc đời của ta chính là tâm ta và nhân duyên, nhân quả của cuộc đời ta là tùy thuộc vào tâm ta mà biểu hiện. Không có nhân duyên và nhân quả nào tách rời khỏi tâm ta mà hình thành và biểu hiện cả. Tâm ta chính là nguồn gốc cho nhân duyên, nhân quả của cuộc đời ta hình thành và biểu hiện.
Do ta không nhận biết cụ thể và chính xác nhân duyên, nhân quả giữa những hạt giống cam và quýt; do ta không biết phương pháp để chăm sóc; và do ta không biết thời vụ và chất đất để gieo trồng, nên ta mong muốn một đường, mà kết quả đến với ta một nẻo.
Không có nhân duyên, nhân quả nào, khi ta gieo hạt giống cam mà quả lại cho ta là quýt và cũng không có nhân duyên, nhân quả nào, ta gieo hạt giống quýt mà quả lại cho ta là cam.
Cũng vậy, không có thành quả của an lạc và hạnh phúc nào đến với người tâm nghĩ ác, miệng nói ác, thân làm ác. Và cũng không có thành quả khổ đau và thất vọng nào đến với người tâm nghĩ thiện, miệng nói thiện và thân hành thiện.
Nếu vì bản thân ta, mà nghĩ đến điều thiện, miệng nói điều thiện và nỗ lực làm việc thiện, thì thiện ấy chưa phải là thiện của thiện, nên an lạc đến với ta rất ít, mà khổ đau và thất vọng đến với ta rất nhiều.
Vì vậy, ta không ngạc nhiên gì, ở giữa đời đã có nhiều người tự cho mình là hành thiện, nhưng trong đời sống của họ chỉ sinh ra những trái đắng và khổ đau.
Nếu không vì bản thân ta mà tâm nghĩ đến điều thiện, miệng nói điều thiện và nỗ lực làm thiện mỗi ngày, thì thiện ấy mới đích thực là thiện. Thiện ấy là điểm để cho niềm tin và an lạc trong tâm ta phát sinh và nhân duyên, nhân quả tốt đẹp hình thành trong đời sống của ta.
Một người biết sống yêu thương và tử tế với chính mình, người ấy không phải chỉ biết khắc phục hậu quả khổ đau, mà còn phải biết cách lấy những hạt giống khổ đau ra khỏi tâm thức của chính họ, khiến cho mọi nhân duyên, nhân quả khổ đau không còn có điều kiện sinh khởi ở trong đời sống của họ nữa. Và một người thông minh, giàu lòng nhân ái, người ấy không phải chỉ biết giúp người khác khắc phục hậu quả khổ đau, mà còn phải biết cách giúp cho người khác, thoát ra khỏi những hạt giống khổ đau ở nơi tâm thức của chính họ nữa.
Khổ đau hay hạnh phúc đến với chúng ta là từ nơi tâm thức của mỗi chúng ta. Nên, mỗi khi đối diện với khổ đau hay hạnh phúc là ta có cơ hội để tiếp xúc với những hạt giống thiện, ác ở nơi tâm ta. Tiếp xúc với những hạt giống bất thiện ở nơi tâm ta, không phải để đối phó, mà để nhận diện, ôm ấp và chuyển hóa, khiến chúng đi về theo hướng hiền thiện. Và tiếp xúc với những hạt giống thiện ở nơi tâm ta không phải để tự mãn, mà để tiếp tục nuôi dưỡng và thăng hoa chúng đến chỗ thuần thiện.
Tiếp xúc và làm chủ tâm ta mỗi ngày, điều ấy không phải là dễ, tại sao? Vì tâm ta không có hình tướng. Nó vĩ đại thì trong thế gian nầy không có gì vĩ đại cho bằng; nó tinh vi, thì ở trong thế gian nầy, không có cái gì tinh vi cho bằng; nó bén nhạy và linh hoạt, thì ở trong thế gian nầy không có cái gì bén nhạy và linh hoạt cho bằng; nó độc ác thì ở thế gian nầy không có cái gì độc ác cho bằng; nó thánh thiện thì ở trong thế gian nầy không có cái gì thánh thiện cho bằng.
Vì vậy, tiếp xúc và làm chủ tâm là cả một công trình tu luyện liên tục và miên mật.
Và cũng vì vậy, ai tiếp xúc và làm chủ được tâm, người ấy mới có khả năng làm chủ được nhân duyên, nhân quả của đời mình, làm chủ được sự sống chết và tự tại giữa muôn ngàn diệt sinh, ảo hóa của vạn duyên và vạn hữu.
Nếu ta không làm chủ được tâm ta, thì ta sống với ai, ta cũng sẽ buồn chán, sống với xứ sở nào ta cũng sẽ thất vọng. Và nếu ta làm chủ được tâm ta, thì ta sẽ làm chủ được vạn duyên trong đời sống của ta, nên sống với ai ta cũng vui. Ta sống với thiện hữu tri thức ta vui đã đành, mà sống với ác tri thức cũng không làm cho niềm vui của ta bị suy giảm. Sống với thiện tri thức ta cũng có điều kiện để học hỏi và thăng hoa, mà sống với ác tri thức ta cũng có điều kiện để nhìn lại mình, mà phòng hộ và chuyển hóa. Sống trong thuận cảnh, ta vui đã đành mà sống trong nghịch cảnh, niềm vui của ta cũng không hề bị tổn giảm. Sống trong thuận cảnh, ta cũng có điều kiện để thăng hoa, mà sống trong nghịch cảnh, ta cũng có điều kiện để tôi luyện và phát huy nội lực.
Nghiệm cho cùng, sống giữa đời không có ai tồn tại trong thuận cảnh đơn thuần và cũng không có một ai tồn tại đơn thuần giữa nghịch cảnh. Nghịch và thuận là hai mặt tương sinh trong đời sống của mỗi chúng ta. Cũng như hai cánh tay phải và trái là hai khía cạnh của một thân thể lành mạnh, linh hoạt và tháo vát. Một thân thể lành mạnh, linh hoạt và tháo vát không bao giờ chỉ biết hoạt động một tay hay một chân.
Trong đời sống hàng ngày của chúng ta, ta thuận với cái nầy, thì ta nghịch với cái khác và ta nghịch với cái nầy, thì ta thuận với cái khác.
Ta chỉ có hạnh phúc và có khả năng hướng thượng, khi ta nhận ra được sự thật của lẽ thuận nghịch ấy trong đời sống của ta và chung quanh ta. Ta phải biết tác dụng thực tế của hai mặt thuận nghịch, ngay trong đời sống của mỗi chúng ta. Và ta phải biết làm chủ tâm ta ngay trong cái lẽ thuận nghịch ấy của cuộc sống.
Ta cần nhìn thật trầm tĩnh và sâu sắc để thấy rằng, ở trong đời có những cái thuận với ta cũng có khi giúp ta, nhưng cũng có khi hại ta và có những cái nghịch với ta cũng có khi là hại ta, nhưng cũng có khi giúp ta rất nhiều.
Nên, vấn đề an lạc và hạnh phúc của ta không phải là ở nơi sự từ chối nghịch chạy theo thuận, mà ta phải biết làm chủ tâm ta giữa hai lẽ thuận và nghịch ấy của cuộc sống. Ta cần phải nhìn sâu để biết rằng, chân lý của cuộc sống là bao gồm cả hai lẽ thuận và nghịch, nếu từ chối thuận hay từ chối nghịch, thì ta không có lý do gì để hiện hữu.
Cũng như ánh sáng là chân lý và tác dụng của ngọn đèn, nếu ngọn đèn chỉ chấp nhận điện tử dương, mà từ chối điện tử âm hoặc chỉ chấp nhận điện tử âm mà không chấp nhận điện tử dương, thì ánh sáng và tác dụng của ngọn đèn không bao giờ phát ra, khiến cho sự có mặt của cây đèn trở thành vô dụng và vô nghĩa. Ánh sáng của ngọn đèn chỉ phát ra và có tác dụng lợi ích cho cuộc sống, khi nào bản thân ngọn đèn có khả năng tiếp nhận và làm chủ hai dòng âm dương, thuận nghịch đến với nó và hoạt động trong nó.
Cũng vậy, mỗi khi ta đã làm chủ được tâm ta, khiến tâm ta hoàn toàn không bị chi phối bởi các vọng tưởng, thì hai lẽ thuận nghịch trong đời sống của mỗi chúng ta, giúp cho ta đi tới với đời sống tự do và khiến cho ta thong dong giữa đôi dòng thuận nghịch.
Thuận và nghịch trong đời sống của mỗi chúng ta, chẳng khác nào đôi cánh phải và trái của chú chim đại bàng đã giúp cho chú bay liệng giữa bầu trời cao rộng và tự do.
Thuận và nghịch trong đời sống của mỗi chúng ta, cũng phải thường trực quán chiếu như vậy, để lúc nào và ở đâu, ta cũng làm chủ được tâm ta, để ta có khả năng chế tác ra hạnh phúc và an lạc cho ta và cho mọi người, khiến cho ai cũng có thể thực hiện đời sống thong dong giữa đôi dòng thuận nghịch
Tượng Phật Bổn Sư Thích Ca 3 chiều do Htr. Minh Đạt GĐPT Chánh Hoà biếu tặng Gia Đình Quảng Thọ Đoàn Như Tùng từ Nghệ Gia thiết kế và sản xuất B.S Lê Văn Hiển tại Sài Gòn,Việt Nam.
Tại Bắc Mỹ Quý vị Phật Tử, anh chị em nào muốn thỉnh tượng Phật 3 chiều này xin liên lạc về anh Minh Đạt :(510) 393-9219 hay anh Quang Hưng (925) 577-0775
Trích trong VietBao Daily Online
Chúng tôi đã đến thăm viếng Tịnh Xá Ngọc Hoà, tọa lạc tại 766 S. 2nd Str, San Jose, tiếp xúc với vị sư nữ trị trì tịnh xá là Tỳ Khoe Ni Thích Nữ Tiến Liên. Nơi chánh điện Phật tử đang trì tụng Kinh Pháp Hoa cầu nguyện và chuẩn bị ngày đón tượng Phật Ngọc Hòa Bình về San Jose vào trung tuần tháng 9/2010.
Việc cung thình Tượng Phật Ngọc về San Jose trong mục đích cho đồng hương các giới đến chiêm bái và cầu nguyện cho hòa bình thế giới, TX Ngọc Hòa phát nguyệt thực hiện công đức vô lượng nầy.
Ni Cô Tiến Liên cho biết tượng Phật Ngọc được tạc từ một khối ngọc thạch tìm thấy ở Canada. Sự tích có thể được tóm lược như sau: Khối ngọc Polar Jade nặng nhất thế giới (18 tấn), để dùng tạc pho tượng Phật cao 3,5m, nặng gần 5 tấn do Ông Ian Green, người Úc mua được. Ông đã được biết có khối bích ngọc vừa được tìm thấy do một người bạn Việt Nam báo cho ông, ông Ian chưa biết sẽ phải làm gì , ông đã báo cho thầy ông là Lạt-ma Zopa Rinpoche, vị thầy đã nhập thiền và cho biết nên mua và tạc thành tượng Phật. Sau đó ông Ian đưa về Thái Lan nhờ thợ tạc tượng theo một kiểu mẫu tượng có tại một thánh địa của Phật Giáo. Sau một thời gian Tượng đã hoàn tất sau 18 tháng. Ông Ian đã đưa tượng Phật Ngọc Hoà Bình (tên do Lạt-ma Zopa Rinpoche đặt) vòng quanh thế giới. Nơi đến đầu tiên là Việt nam, sau đó nơi nào thỉnh sẽ có lịch trình được sắp xếp. Hiện nay tượng đã đến Hoa Kỳ đi qua các tiểu bang miền đông, và sẽ đến San Jose vào ngày 15/9/2010, do TX Ngọc Hòa cung thỉnh. Được biết BTC là TX Ngọc Hoà và ông Dave Cortese, một Phật tử người Mỹ.
Để có được chi phí tổ chức, TX Ngọc Hòa tổ chức bữa cơm gây quỹ vào ngày Chúa Nhật 2/5/2010 lúc 4:00 chiều tại nhà hàng Dynasty Seafood Restaurant. Có thể liên lạc vơi Ni sư Tiến Liên tại số 408-507-2363
Tìm hiều thêm về tượng Phật Ngọc Hòa Bình, chúng tôi biết thêm Tượng Phật Ngọc điêu khắc theo mẫu tượng Phật đặt trong Bảo tháp Đại Bồ Đề (Mahabodhi Stupa) ở Bồ Đề Đạo Tràng tại Ấn Độ, và mỗi chi tiết trên Tượng Phật cần thể hiện sức diệu dụng của Phật với 32 tướng tuyệt hảo trong kinh Đại Bát Nhã Ba-la-mật-đa. Toàn thân đức Phật ngồi trên tòa sen trong tư thế kiết già, Liên hoa tọa (Padmasana). Hai bàn tay tượng Phật Ngọc với bàn tay phải thòng xuống chấm đất, bàn tay và các ngón tay úp vào phía trong, gần đầu gối bên phải, còn bàn tay trái ngửa ra với các ngón hơi cong lên đặt giữa hai đùi. Thủ ấn này trong kinh gọi là Xúc địa ấn -tiếng Sanskrit: Bhumisparsa Mudra. Tượng Phật Xúc địa ấn là tượng Phật nổi tiếng nhất vì tượng được đặt tại Bồ Đề Đạo Tràng - Bodh Gaya, nơi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo. Xúc địa Ấn, Kinh ghi rằng khi Đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo, thiên ma kéo đến quấy nhiễu, Phật đã dùng Xúc địa ấn để ấn lên mặt đất, khiến vị thần dưới lòng đất vọt lên. Ác ma và quỷ thần trông thấy liền sợ hãi, tan biến, nên Xúc địa ấn còn có nghĩa là Ấn hàng ma phục quỷ. Ấn này có công năng khuất phục, hàng ma làm cho các thế lực độc ác ma quái phải đầu hàng. Với ấn hàng ma ấy, tượng Phật Ngọc cho hòa bình thế giới được cung nghinh và rước đi vòng quanh thế giới với mong muốn hàng phục ma chướng, ngăn chặn chiến tranh và những cuộc hủy hoại tàn phá.
Với niềm tin mãnh liệt vô biên vào thần thông của Đức Phật, nhiều người cho rằng hào quang của tượng Phật Ngọc thay đổi khi màu xanh, khi màu vàng tùy theo người chiêm bái . Tuy nhiên, có người lại giải thích vì tượng có 3 vòng hào quang một vòng màu xanh bằng ngọc bích, hai vòng còn lại hoàng ngọc tách rời. Đến mỗi nơi tùy theo bối cảnh thích hợp với màu hào quang nào thì BTC sẽ gắn hào quang màu ấy. Sự việc ấy xảy ra như thế nào, đồng bào Việt nam hãy đến chiêm bái khi tượng được tịnh xá Ngọc Hòa cung thỉnh về San Jose để tự thân chứng nghiệm. Theo Sư Cô Tiến Liên, Tượng Phật Ngọc sẽ lưu lại San Jose hai tuần lễ.
Tưởng cũng nên biết ông Ian Green, chủ nhân tượng Phật Ngọc, là một phật tử, ông bắt đầu tu khi ông du hành đến Ấn Độ khoảng đầu năm 1970. Ông đã chiêm ngưỡng Đại Tháp ở vườn Lộc Uyển, là nơi Đức Phật giảng bài pháp đầu tiên cho 5 ông Kiều Trần Như sau khi Ngài chứng ngộ, (nơi đây cũng là một trong những thánh địa của Phật giáo được kể rõ trong chuyến hành hương của Phật tử Tâm Phương trong Bút Ký Dòng Nước Ngược). Ông Ian Green tìm hiểu thêm về Phật giáo và rồi ông trở thành một phật tử. Năm 1981, thân phụ của ông cúng dường 50 mẫu đất cho Lạt Ma Yeshe để kiến lập một trung tâm Phật giáo.
LÊ BÌNH
http://www.phatngocsanjose.com
Ước Vọng Vu Lan
Mỗi Mùa Thắng Hội Vu Lan
Ai ai cũng cảm bàng hoàng tâm tư
Một năm man mác còn dư
Đến Mùa Thắng Hội thêm như thế này
Phải rồi Tháng Bảy mưa bay
Gió se se lạnh nỗi này tình kia
Mưa sa nhỏ giọt chia lìa
Công ơn Cha Mẹ hiện về giăng giăng
Hòa theo Tháng Bảy Mùa Trăng
Là Mùa Hiếu Hạnh nặng oằn thâm sâu
Ra bờ Ái Tử đầu cầu
Lăn tăn gợn sóng vũng nâu ru hời
Võng đưa kẽo kẹt à ơi
Cả hình bóng Mẹ một đời hiện ra
Vọng nghe trên ải sơn hà
Chim kêu quốc quốc gia gia canh trường
Cấu thành hình bóng quê hương
Có tình Phụ Tử vương vương cơ đồ
Kệ kinh trầm bỗng Nam Mô
Lung linh nghĩa địa cửa mồ tối om
Kìa Cha kìa Mẹ chúng con
Kìa anh kìa chị lon ton hiện về
Chờ Mùa Hiếu Hạnh nằm nghe
Rụng rơi trái chín não nề tấm son
Chùn sâu thẩm thấu tâm hồn
Động lên trí não lòng cồn ruột đau
Thương Mẹ thì Mẹ còn đâu
Thương Cha mấy lớp cỏ khâu xanh rì
Anh em mỗi kẻ phân ly
Ngày xa tháng vắng nói chi họ hàng
Tình quê một nỗi mênh mang
Tình non nghĩa nước lại càng lao lung
Nhện giăng quán trọ đóng khung
Ngẫm riêng mới thấy não nùng nghĩa ân
Công ơn sinh dưỡng Song Thân
Công ơn non nước ngàn cân ngập lòng
Hiếu kia đền đáp sao xong
Hạnh kia bù lấp sao mong cho cùng
Nương Mùa Hiếu Hạnh bao dung
Con hiền cháu thảo trĩu chùng lòng son
Chân thành thắp nén tâm huơng
Dâng Mùa Hiếu Hạnh nhớ thương tôn thờ
Chắp tay niệm tiếng Nam Mô
Dâng Mùa Hiếu Hạnh đến giờ linh thiêng
Chứng tri con thảo cháu hiền
Dù cho muôn một đáp đền nghĩa ân
Trung nguyên tháng bảy hằng năm
Là Mùa Thắng Hội Vu Lan nhiệm mầu
Dù ai ở tận nơi đâu
Đến Mùa Báo Hiếu mau mau tựu về
Đàn tràng mở Hội đề huề
Cho tròn Hiếu Hạnh nguyện thề Vu Lan.
Tháng 6 – 2010
TNT Mặc Giang
Vin Cành Hoa Trắng
Nhìn ai đó, đang cài bông hoa trắng
Tôi biết rồi, anh trắng cả thiên thu
Còn chị và em, trắng cả mịt mù
Cha Mẹ mất rồi, còn gì mà nói
Cài Hoa Trắng, là bầu trời khép lại
Là không gian đóng khung cửa yêu thương
Là thời gian gởi vĩnh viễn vô thường
Cha Mẹ mất rồi, là mất tất cả
Cài Hoa Trắng, màu xanh mờ lá mạ
Màu úa vàng, lúa chín khóc ruộng nương
Màu thu tím, cuốn lá rụng vương vương
Màu của những ai không còn Cha Mẹ
Cài Hoa Trắng, nhiều khi ta giật mình khe khẽ
Nằm mơ gì mà lệ đẫm đêm qua
Giọt lệ buồn hay giọt lệ châu pha
Gối đã trũng biết bao lần thương Cha nhớ Mẹ
Cài Hoa Trắng, ta ra đầu cửa bể
Hỏi Biển Đông sao sóng vỗ mù sương
Tiếng sóng kia không phải tiếng trùng dương
Mà là tiếng của vô cùng nhớ Mẹ
Cài Hoa Trắng, ta lên đầu quan ải
Hỏi Trường Sơn, núi Thái cao đến đâu
Ngó ngược lên chót vót cuối đỉnh đầu
Công đức Cha vẫn nhìn chưa thấy hết
Chứ không những chỉ đồng cao ruộng thấp
Chứ không những chỉ manh áo chén cơm
Vùng đất khô khan trâu kéo cõi còm
Lúa mạ hao gầy cày lên sỏi đá
Chứ không những chỉ nhà tranh gốc rạ
Mái quê nghèo khốn khó đãi nhiêu khê
Cho người dân tôi sống nỗi ê chề
Thiếu trước hụt sau hai mùa mưa nắng
Lại còn phải kinh qua bao thời chinh chiến
Khói lửa tơi bời dày xéo quê hương
Cho người dân tôi nát ruột đoạn trường
Đổ nước mắt dập vùi trong sự sống
Mỗi bước chân đi ta mang hình ảnh Mẹ
Mỗi bước chân đi, ta mang vóc dáng Cha
Trong thâm tâm luân lưu huyết thống đậm đà
Trong tình tự chứa chan tình Dân tộc
Chứ không có nghĩa dành riêng con trẻ
Không Cha không Mẹ, mới gọi mồ côi
Dù mình già cả, chết tới nơi rồi
Nhưng nghĩ đến Tông Đường, bỗng thấy đời lạc lõng
Áo cài Hoa Trắng
Trắng một cành hoa
Thức trắng đêm qua
Nằm ru gối mộng
Ôi Mùa Hiếu Hạnh
Khép cửa đơn côi
Trời đất rụng rơi
Ngân hà ngưng đọng
Thời gian nín thở
Không gian lặng thinh
Con đứng một mình
Ôm rêu Hiếu Hạnh
Cha không lên tiếng
Mẹ cũng xa mờ
Con đứng trơ vơ
Vin cành Hoa Trắng.
Tháng 6 – 2010
TNT Mặc Giang
Hiếu Hạnh Phật Giáo
Hiếu đạo thường tình trong thế gian
Mong sao cha mẹ được bình an
Dưới hòa trên thuận và êm ấm
Đủ mặc đủ ăn sống nhẹ nhàng
Hiếu đạo thường tình của thế nhân
Mong sao cha mẹ sống dư phần
Giàu sang phú quý nhiều duyên phước
Để lại đời sau cho cháu con
Nhân tâm hiếu đạo của con người
Hạnh phúc, sang giàu, đẹp tốt tươi
Sung túc, dư thừa, và thọ hưởng
Phì gia, vinh thế, phải hơn đời
Mẹ Cha đắc thọ sống miên trường
Con cháu đầy đàn cùng vấn vương
Tráo đấu, lường đong, đãi phú quý
Hiền lương, thiện ác, ít cân lường
Suốt đời tận tụy kiếp nhân sinh
Địa vị, quyền uy với lợi danh
Tranh đoạt, gian tham và cố thủ
Thời gian đâu nữa nói hư vinh
Mấy chốc thoi đưa đã yếu già
Đó là chưa kể bịnh tình đa
Nghĩa trang đã lắm mồ hoang lạnh
Còn lấn chen nhau, cãi, khóc, la
Phật rằng, như thế mới thường tình
Lục đạo, tam đồ lụy chúng sinh
Nước mắt nhiều hơn bốn biển lớn
Lộn nhào trong bóng dáng vô minh
Phật rằng, ta tạm mấy lời khen
Cháu thảo con hiền khá đáp đền
Đã hết cuộc đời bên quán trọ
Nhà xưa không biết cho nên quên
Chư Thiên tuổi thọ thật không lường
Thụ hưởng dư thừa rớt vãi vương
Phước cạn, đức khô, còn đọa xuống
Huống chi nhân thế lắm tai ương
Đạo Hiếu cao siêu, Phật tỏ bày
Lắng nghe cho kỹ, kể từ nay
Hành trì cẩn mật và truyền lại
Kim cổ dung thông không đổi thay
Đạo Hiếu Thế Tôn thì khác nhiều
Sống thời tu tập, chết tiêu diêu
Không sa tro bụi căn nhà lửa
Hát khúc vô sanh đỉnh nguyên siêu
Đạo Hiếu Như Lai, Phật dạy rằng
Quá thời Cha Mẹ được siêu thăng
Sống thời làm phước bồi tâm đức
Tam thế nhàn cư mới vĩnh hằng
Đạo Hiếu của ta vô thượng thừa
Ba đường sáu nẻo cứ ra vô
Chúng sanh tất cả đều con một
Đưa đến Niết Bàn, khá biết chưa
Đó là Hiếu Hạnh tuyệt trần gian
Thánh đức từ bi của Đạo Vàng
Vạn loại sinh linh đều tế độ
Liên hoa chín phẩm tọa an ban.
Tháng 6 – 2010
TNT Mặc Giang
Hoa Trắng Thù Ân
Bông Hoa Trắng đang cài trên chiếc áo
Mắt rưng rưng và lệ thắm mềm môi
Lặng nhìn thôi và không nói một lời
Sao kỳ lạ hỡi người trong nhân thế
Hoa Màu Trắng, là màu gì như thế
Em biết rồi, nói chi nữa thêm đau
Chị biết rồi, nói chi nữa thêm sầu
Anh biết rồi, nói chi nữa, ân hận
Hoa Màu Trắng, là màu của cam phận
Đeo một lần, là gắn cả thiên thu
Mang một lần, là gắn cả mịt mù
Thầm cầu nguyện thiết tha Mùa Hiếu Hạnh
Hoa Màu Trắng, là màu của câm nín
Không còn Cha một tiếng để mà kêu
Không còn Mẹ để nũng nịu kèo nhèo
Đổi cả trần gian cũng không bao giờ tìm được
Hoa Màu Trắng, là màu của bất hạnh
Không còn Cha, để núp bóng Song Đường
Không còn Mẹ, để tắm gội yêu thương
Đổi cả bạc vàng cũng không bao giờ mua được
Hoa Màu Trắng, là màu của vĩnh biệt
Màu tạ từ, màu vĩnh viễn, màu thiên thu
Anh, chị, và em, sẽ không có nụ cười
Khi nhìn người ta cài Hoa Hồng Trên Áo
Hoa Màu Trắng, chia sẻ cơn áo não
Chắp tay cầu Mùa Thắng Hội Vu Lan
Cửa A Tỳ, hãy rộng mở thênh thang
Để con hiền cháu thảo đền ơn trong muôn một
Hoa Màu Trắng, diễn tả cho cùng tột
Chữ nghĩa của thế gian, cho cạn hết ngôn từ
Công Đức Sinh Thành, vẫn chỗ thiếu chỗ dư
Cho nước mắt cứ chảy, cho hoa cài trên áo
Hoa Màu Trắng, cho tôi xin khép lại
Mùa Báo Hiếu về, Thắng Hội Vu Lan
Nguyện cầu sinh linh vạn loại siêu thăng
Trong đó có Cha Mẹ, và cửu huyền Thất Tổ
Hoặc lục thân quyến thuộc, những ai quá cố
Đến chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn, thập loại cô hồn
Hay bởi thiên tai, nạn tai, sơn hà hải địa oan vong
Cũng được nương nhờ Mùa Vu Lan Hiếu Hạnh
Hoa Màu Trắng, cho tôi xin được gắn
Gắn một lần, chứ không dám nữa đâu
Bởi từ nay, và mãi mãi về sau
Anh chị và em, hãy tự gắn, chứ không cần ai gắn nữa
Kể từ đó, ta về hoang đảo nhỏ
Khép khung trời đóng cửa tiếng Mẹ Cha
Mỗi một năm, Mùa Báo Hiếu đi qua
Ta lại gắn thêm một lần Hoa Trắng
Kể từ đó, ta về căn quán trọ
Của cuộc đời nhiễm thể kiếp phù sinh
Nguyện pháp giới không còn Tam đồ, Lục đạo điêu linh
Để nước mắt của con người, của tình dữ vô tình
Biến thành nước Cam Lồ thanh lương giải thoát
Đó, là ý nghĩa siêu tuyệt Vu Lan Thắng Hội cao nhất
Đó, là ý nghĩa nêu gương Hiếu Hạnh Mục Kiền Liên
Bao nhiêu tầng địa ngục còn giải cứu
chứ đừng nói hoàng tuyền
Và, ta sẽ sung sướng mỉm cười
Màu Hoa Trắng là màu Thù Ân cao cả.
Tháng 6 – 2010
TNT Mặc Giang
Nở Đóa Từ Thân
Người đời hát tiếng Mẹ Cha
Ta đưa Cha Mẹ vào nhà Như Lai
Người đời sắc thắm hoa cài
Ta đưa Cha Mẹ lên đài sen thơm
Người đời hầu hạ áo cơm
Ta đưa Cha Mẹ thoát vòng trầm luân
Người đời sớm tối ân cần
Ta đưa Cha Mẹ dự phần Thánh nhan
Mai sau sẵn có sen vàng
Hôm nay thấm nhuận chứa chan cam lồ
Công Cha đức Mẹ tôn thờ
Con hiền cháu thảo ươm mơ vẹn tình
Không tranh hơn thiệt lợi mình
Lời qua tiếng lại lao linh Tông Đường
Không màng nặng nhẹ tầm thường
Bào mòn nghĩa cử tình thương nhiệm mầu
Khắc ghi nhớ mãi trong đầu
Xuôi thuyền mát mái một tàu Mẹ Cha
Anh em con cháu gần xa
Ở đâu đi nữa một nhà mà thôi
Nhờ Cha, ta mới nên người
Nhờ Mẹ, ta biết nụ cười yêu thương
Nhờ Cha, thỏa chí cương thường
Nhờ Mẹ, tắm gội sắc hương trong đời
Càn khôn nở đóa tinh khôi
Ngàn năm sừng sững đất trời Mẹ Cha.
Tháng 6 – 2010
TNT Mặc Giang
Công đức Phụ Thân
Công Cha núi Thái thua xa
Trường Sơn mờ khói quan hà non xanh
Khi nghe công đức Sinh Thành
Hòn chồng đá tảng loanh quanh thẹn thùng
Ơn Cha một tiếng vô cùng
Vô thỉ kính cẩn vô chung nghiêng mình
Gom ngàn vạn thể trung trinh
Vẽ chưa đủ nét bóng hình của Cha
Gom ngàn vạn thể thiên hà
Cũng chưa thể sánh đậm đà Từ Nghiêm
Con đom đóm nhỏ soi đêm
Vẽ tình Phụ Tử khép thềm hư vô
Dế mèn lưu ký tàn khô
Vẽ tình Phụ Tử xô bờ rêu xanh
Mồ hoang cây cỏ ngậm vành
Đất kia thấu ruột trời xanh nhũng lòng
Ơn Cha, huyết thống tồn vong
Cội nguồn chuyển mạch nối dòng thiên thu
Ơn Cha, một tiếng Nghiêm Từ
Chất đầy vũ trụ còn dư Nghiêm Đường
Ơn Cha, hằng hữu phi thường
Băng qua bóng dáng vô thường còn nguyên
Cõi nào là cõi thiêng liêng
Gắn trên chót đỉnh hậu – tiền Ơn Cha.
Tháng 6 – 2010
TNT Mặc Giang
Hoa Hồng dâng Mẹ
Hoa hồng một đóa xinh xinh
Gắn trên vành áo thắm tình mẫu thân
Còn Mẹ diễm phúc tuyệt trần
Một lòng hiếu thảo ân cần mến yêu
Hoa hồng một đóa nâng niu
Bước đi trỗi nhịp cầu kiều Mẹ thương
Mẹ hiền ngát tỏa mùi hương
Ươm tình dịu ngọt trên đường trần gian
Còn Mẹ hơn cả bạc vàng
Hơn muôn phú quý hơn ngàn minh châu
Mẹ là hằng hữu nhiệm mầu
Cháu con tận hưởng sắc màu yêu thương
Mẹ là vạn lý thiên hương
Trời cao biển rộng vấn vương nghĩa tình
Hoa hồng một đóa xinh xinh
Em còn có mẹ bên mình nghe em
Thắp nhang khấn nguyện hàng đêm
Đừng ai ập phủ bóng thềm hoang vu
Chập chờn vần vũ mây mù
Đừng ai mở cửa thiên thu vạn sầu
Dòng sông Ái Tử bên cầu
Vô thường im sóng chìm sâu xa bờ
Hoa hồng dâng Mẹ ươm mơ…
Tháng 6 – 2010
TNT Mặc Giang
Thắm tô Tình Mẹ
Hỡi Mẹ Hiền ơi Mẹ ở đâu
Con đi tìm Mẹ khắp tinh cầu
Chân trời góc biển, nhìn hoang đảo
Núi cả lưng đèo, ngóng hố sâu
Con đi tìm Mẹ đếm tình thương
Đom đóm dõi soi khắp nẻo đường
Thắp sáng mập mờ chìm bóng tối
Đêm dài tĩnh mịch phủ mùi sương
Mẹ Hiền ơi hỡi ở nơi nào
Vạn hữu im re chẳng xuyến xao
Vũ trụ lặng thinh không tiếng động
Phương trời mờ mịt gởi ngàn sao
Chừng như có một cõi đi về
Lặn lội đi tìm đã mỏi mê
Đi khắp mồ hoang cùng nghĩa địa
Lối mòn phơi dốc đá nhiêu khê
Bóng hình của Mẹ hiện đâu đây
Đưa mắt nhìn con không chớp lay
Hun hút thiên thu chừ bỏ ngõ
Hư vô nắm lại chẳng đong đầy
Tôi vẫn ươm mơ bóng Mẹ hiền
Tinh cầu có một cõi thiêng liêng
Tôi xin tô thắm tình thương Mẹ
Trụ vũ muôn đời đẹp vĩnh nhiên.
Tháng 6 – 2010
TNT Mặc Giang
Công đức Song Đường
Nói về công đức của Song Đường
Biển rộng trời cao không thể lường
Núi thẳm sông sâu không thể sánh
Không gì bù đắp nổi tình thương
Lòng Mẹ bao la phủ đất trời
Thái Bình biển sóng vỗ đầy vơi
Tin yêu sức sống bình minh gội
Con thảo cháu hiền hưởng thế thôi
Ơn Cha cao cả nặng ngàn cân
Núi Thái thấm đâu đừng lựa lần
Vũ trụ càn khôn còn nể mặt
Không Cha, mưa gió đổ phong trần
Hai Đấng Song Đường tuyệt sắt son
Cho ta thân thể có tâm hồn
Có lòng chan chứa ươm tình tự
Ái Tử là gì hỡi cháu con
Công đức Song Đường tuyệt thế thay
Ơn Cha một tiếng phủ trời mây
Một lời Nghĩa Mẹ tràn chung thủy
Nhắc nhở muôn đời, không đổi thay.
Tháng 6 – 2010
TNT Mặc Giang
Hiếu Hạnh đền Ơn
Công đức Mẹ Cha thật nhiệm mầu
Không gì so sánh nổi cho đâu
Lời ca tiếng hát còn trầm bỗng
Chữ nghĩa văn chương chấm phết câu
Sân khấu muôn phương kéo, mở màn
Núi rừng thư viện của trần gian
Không sao diễn hết Tình Cha Mẹ
Công đức sinh thành mãi vọng vang
Nhắc nhau muôn một nghĩa thù ân
Máu chảy về tim xin dự phần
Châu thể vo tròn nhìn gốc cội
Song đường nghiêm tỏa đức từ thân
Con thảo cháu hiền hãy nhớ này
Đây là phương cách của xưa nay
Lắng nghe cho kỹ và gìn giữ
Tam thế ba đời không đổi thay
Đáp đền chỉ có Hội Vu Lan
Chư Phật Mười Phương đồng hỷ hoan
Tứ Chúng một lòng quy thiết lễ
Mỗi Mùa Báo Hiếu tạ thù ân
Chuông chùa thánh thoát vọng ngân vang
Ngưỡng cửa thiền môn của Đạo Vàng
Sống chết đôi bờ nghe sóng vỗ
Nhiệm mầu thù thắng Hội Vu Lan
Cửa ngục trùng trùng sẽ mở toang
Thiên Đường rợp Ánh Đạo huy hoàng
Sinh linh vạn loại đều nương bóng
Thoát khỏi Tam Đồ, đáo Lạc Bang
Khá khen nhân thế nhớ Thù Ân
Công đức Mẹ Cha đừng lựa lần
Khắc cốt ghi tâm và bái tạ
Đáp đền ơn trọng nặng ngàn cân
Ông Cha nhờ đó được siêu thăng
Còn Mẹ an khương chốn diễm hằng
Tất cả hàm linh đều giải cứu
Mỗi Mùa Hiếu Hạnh, Hội Vu Lan.
Tháng 6 – 2010
TNT Mặc Giang
Huỳnh Kim Quang
Trên thế gian này, dường như không ai và không một ngôi trường nào dạy làm sao để người ta có tình yêu thương cha mẹ và con cái.
Giống như không ai dạy con người làm sao biết hít thở không khí để sống, tình yêu thương cha mẹ và con cái có trong bản chất con người, mà đạo Phật gọi là “câu sinh,” tức sinh ra cùng một lần với sự có mặt của con người.
Người mẹ khi mang thai con là một chọn lựa quan trọng nhất trong đời. Người mẹ ấy biết rằng từ nay trong cuộc đời bà lại có thêm một mảnh đời khác, nhưng thực sự không khác tí nào cả, gắn bó keo sơn đến hơi thở cuối cùng của bà. Khi ý thức điều đó, cũng có nghĩa là người mẹ chấp nhận một thứ bản ngã, một thân xác thứ hai ngay trong chính con người mình. Đứa con là sự sống của người mẹ trong cả hai bình diện tinh thần và thể chất.
Như vậy người mẹ có phải chia bớt phần bản ngã và thể chất của bà cho đứa con? Nếu có thì người mẹ đã mất mát một phần bản ngã và thể chất. Nếu không thì đứa con không là một phần trong đời sống của người mẹ. Về mặt thể chất, vật chất thì dễ thấy cho nên, ai nấy đều biết rõ là người mẹ từ lúc mang thai cho đến khi sanh con và nuôi dưỡng con khôn lớn nên người đã tiêu hao thân xác rất nhiều. Về mặt tinh thần thì khó thấy, nhưng tất nhiên không phải là hoàn toàn không thấy được. Xem đứa con như một phần đời của mình, tức là người mẹ dành một chỗ đứng quan trọng trong tinh thần cho con. Hay nói cách khác, đứa con là một phần bản ngã của người mẹ, người mẹ chia một phần bản ngã cho con. Cái phần bản ngã của đứa con trong người mẹ đó thật sự không thể lấy thước để đo được là bao lớn. Bởi vì chỗ đứng tinh thần không hình tướng, cho nên, nó cũng là tất cả cái bản ngã của người mẹ.
Cũng từ đó, người ta mới hiểu được phần nào lý do tại sao tục ngữ Việt Nam có câu rằng, “Nuôi con trăm tuổi, mẹ lo hết chín mươi chín năm.” Và cũng vì lẽ đó, người ta mới thấy rằng tại sao trong đời sống hằng ngày lúc nào người mẹ cũng nghĩ tới, cũng lo cho con trước, rồi mới nghĩ, mới lo cho mình sau, mà có khi còn quên cả lo cho mình nữa.
Cái cảm giác kỳ diệu khi mang thai con nơi người mẹ không một người nào khác trên thế gian này, kể cả người cha, có thể cảm nhận được một cách trọn vẹn và thấu đáo. Trong cơ thể, trong tinh thần, trong tâm thức, trong cảm quan của người mẹ mỗi ngày mỗi hiển lộ dần hình ảnh của đứa con trong đời mình, mà bào thai càng lớn thì cảm thức đó càng lớn theo, càng thâm thiết hơn, càng nồng nàn hơn. Cho đến khi đứa con chào đời, cái cảm thức rằng đó là mảnh đời thịt da máu huyết của mình, không những không thay đổi mà còn tăng trưởng hơn, vì cái mảnh đời đó đang sờ sờ trước mặt, có thể bồng bế, nâng niu, hôn hít cả ngày. Đó cũng là lý do tại sao, những người làm cha mẹ hay có cái cảm nghĩ con mình vẫn còn bé bỏng, dù nó đã khôn lớn trưởng thành. Và đó cũng là lý do tại sao cha mẹ nghĩ rằng mình có quyền trong những quyết định trọng đại đối với cuộc đời của con cái.
Những người con chỉ ý thức và cảm nhận được tình yêu thương của cha mẹ, đặc biệt đối với mẹ, khi đã sinh ra đời, đã đến tuổi ý thức và hiểu biết. Khi đứa con cảm nhận được tình yêu thương của mẹ thì lúc nó đã là một mảnh đời riêng biệt đối với người mẹ. Cho nên, tình thương yêu của con cái đối với mẹ không thâm thiết, không mặn nồng, không sâu sắc như người mẹ thương yêu con. Và cũng vì vậy, thường là khi con cái thành gia thất, rồi trải qua kinh nghiệm làm mẹ, làm cha mới thâm cảm được thế nào là tình yêu thương ruột thịt, máu huyết không phân ly của người mẹ, người cha. Nhưng, có khi biết được thì đã muộn, bởi vì có thể lúc đó cha mẹ đã khuất núi!
Các loài chúng sinh khác, mà dễ thấy như loài thú vật, cũng có những cảm nhận về mối yêu thương gắn bó bất khả phân giữa mẹ con, nhưng vì chúng không có một nền văn hóa, đạo đức và luân lý phát triển đến cao độ như loài người nên chỉ nằm ở bình diện bản năng.
Thể hiện tình yêu thương của cha mẹ và con cái, vì vậy, là bản sắc văn hóa, đạo đức và luân lý đặc thù của loài người từ ngàn xưa đến ngày nay.
Đạo Phật khi nêu cao tinh thần hiếu hạnh cũng tức là bảo vệ và phát huy nếp sống văn hóa, đạo đức và luân lý cao đẹp của con người.
Có điều đặc biệt nơi tinh thần hiếu hạnh của Đạo Phật là ngoài việc thể hiện hiếu hạnh đối với cha mẹ về mặt vật chất trong đời này còn nhắm đến một đời sống cao thượng hơn ở thế giới tâm linh và trong nhiều đời nhiều kiếp chứ không chỉ quanh quẩn trong lãnh vực vật chất, thể xác và ở đời này. Những báo đáp thâm ân cha mẹ của con cái về mặt vật chất không phải là hành trang mà cha mẹ có thể mang theo lâu dài trên lộ trình luân hồi sinh tử. Khi nhắm mắt xuôi tay, tất cả những tiền tài, của cải, giàu sang, danh vọng đều bỏ lại, duy chỉ có nghiệp lực là mang theo. Dĩ nhiên, nói như vậy, không có nghĩa là con cái không cần phải báo đáp thâm ân cha mẹ về mặt vật chất trong đời này, nhưng chừng ấy không, chưa đủ.
Đó là ý nghĩa tích cực của tinh thần hiếu hạnh trong Đạo Phật. Tình thương yêu của cha mẹ và con cái dù thiêng liêng và cao cả đến đâu cũng chỉ xây dựng trên nền tảng tình cảm thế gian, có nghĩa là vẫn còn bị trói buộc trong vòng xoáy của vô minh điên đảo để rồi cuối cùng vẫn phải chịu trôi lăn trong sinh tử luân hồi. Thực hiện hiếu hạnh theo tinh thần Đạo Phật là hướng về con đường giải thoát tận gốc những triền phược và khổ lụy. Đây chính là mục tiêu cao nhất mà tinh thần hiếu hạnh trong Đạo Phật muốn nhắm đến.
Mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái là mối nhân duyên vừa vi tế, vừa phức tạp đến khó hiểu đối với con mắt của người bình phàm. Nhiều bậc cha mẹ ăn ở hiền đức mà sanh con ngỗ nghịch, bất hiếu. Ngược lại, nhiều cha mẹ ăn ở bất nhân, thất đức mà có con hiền lương, hiếu thảo. Vì vậy, nhân duyên làm cha mẹ và con cái với nhau không thể tính trong một đời này mà phải kết nối từ nhiều đời trước. Có khi đó là thiện duyên, phước báo. Có khi đó là ác nghiệp, oan gia. Cứ xem cái gương lịch sử của Ngài Đại Mục Kiền Liên, là một trong mười vị đại đệ tử xuất sắc nhất của đức Phật, thì biết. Mẹ Ngài Mục Kiền Liên có tâm lượng hẹp hòi, bủn xỉn, keo kiệt, mà còn ác nữa, nên khi chết mới đọa làm loài ngạ quỷ đói khát khổ sở vô cùng, vậy mà có người con tu hành chứng đắc Thánh Quả A La Hán với thần thông đệ nhất. Còn hàng cư sĩ tại gia thời đức Phật thì có Vua Tần Bà Sa La và Hoàng Hậu Vi Đề Hi là vị minh quân nhân từ đức độ trị vì nước Ma Kiệt Đà. Ấy vậy mà, nhà vua và hoàng hậu lại sanh ra người con là A Xà Thế ngỗ nghịch giết cha để soán ngôi, lại còn đày mẹ vào lãnh cung tăm tối cho đến chết. Oan nghiệt biết chừng nào!
Tuy nhiên, nếu xét trên bình diện nhân quả và nghiệp báo mà đức Phật đã dạy thì phước hay họa, thiện hay ác mà chúng ta thọ nhận trong đời này đều là những gì do chính chúng ta tạo ra trong quá khứ, một hay nhiều đời. Cũng vậy, lấy đó làm gương để thấy rằng tương lai đời sau của chúng ta khổ hay lạc, phước hay họa là tùy thuộc hoàn toàn vào những gì mà chúng ta tạo ra trong đời này. Nếu hiểu và đem cái hiểu đó áp dụng triệt để vào đời sống hàng ngày thì người học Phật sẽ bớt đi, hay không còn cảm thấy khổ sở, đau đớn, bi quan, tuyệt vọng nữa khi con cái mình đối xử tệ bạc. Cho nên, các bậc cổ đức có nói rằng “Bồ Tát sợ nhân, chúng sinh sợ quả.” Người học Phật đúng ra phải là người sợ ngay lúc tạo nhân chứ không ngồi đó mà sợ khi quả báo tới.
Nếu đã biết sợ nhân thì phải rất thận trọng khi lập gia đình và có con. Phải suy nghĩ một cách thấu đáo rằng có con không phải là việc đơn giản và tầm thường. Cái không đơn giản và không tầm thường không chỉ ở chỗ hoàn cảnh tài chánh và sinh hoạt gia đình, mà còn ở giá trị đích thực và cao quý khi sanh ra đời một đứa con, một con người, một chúng sinh, hay cao xa hơn chính là một vị Phật đương lai. Nuôi dưỡng một đứa con từ lúc còn trong bào thai đến khi khôn lớn nên người là một công việc trọng đại và vô cùng khó khăn, mà bậc cha mẹ phải để tâm từng ly từng tí, từng ngày từng giờ, từng miếng ăn thức uống đến cách giáo dục bằng lời nói, bằng cử chỉ sao cho phù hợp theo từng tuổi tác lớn khôn của con cái. Một người Phật tử với tư cách là cha là mẹ mà có thể dạy được con mình trở thành một người con hiếu thảo, một người công dân hữu ích cho đất nước, cho xã hội đã là điều vô cùng quý giá. Huống chi, cha mẹ có thể dạy con phát tâm Bồ Đề hướng đến con đường cao rộng của chư Phật đi, không phải là đang tạo phước cho muôn loại chúng sinh đó sao?
Với lòng thương yêu con mênh mông không bờ bến thì cha mẹ nào mà không cầu mong được như vậy! Nhưng được hay không lại là một chuyện khác. Được hay không là tùy thuộc vào phước báo của cha mẹ và chính con cái, vào bối cảnh gia đình, trường học và xã hội, vào phương pháp và sức nỗ lực tới đâu của những bậc làm cha mẹ trong việc giáo dục con, v.v…
Tình yêu thương của cha mẹ một khi đã trang trải cho con thì không nghĩ đến chuyện con cái trả ơn, giống như nước trên nguồn chảy xuống thì không nghĩ đến chuyện nước chảy ngược về nguồn. Người làm cha mẹ vui nhất là thấy và biết rõ rằng mình đã làm tròn phận sự, đã rót hết tình yêu thương cho con cái không giữ lại điều gì, là chứng kiến sự trưởng thành thực sự của con cái. Nhưng, khổ nỗi, trong mắt của cha mẹ, con cái lúc nào cũng bé bỏng, thơ dại, cho nên, phải lo lắng cho nó suốt đời. Hết lo cho con rồi lại lo cho cháu, chắt. Dĩ nhiên, ở một khía cạnh nhận định nào đó, sự lo lắng của cha mẹ sau khi con cái thành gia thất cho thấy ba nhược điểm. Một là, cha mẹ chưa tin tưởng thật sự vào sự trưởng thành độc lập của con. Hai là, cha mẹ chưa tin tưởng thật sự vào sự nuôi dưỡng và giáo dục của chính mình đối với con cái, để cứ luôn luôn nghĩ rằng nó chưa thể tự lập, chưa thể tự quyết định, chưa tự đứng vững, chưa tự xây dựng cuộc sống cho riêng nó. Ba là, khiến cho con cái có tâm ỷ lại và lệ thuộc vào cha mẹ, trong khi đã đến lúc nó phải tự đứng lên gánh lấy trách nhiệm để kiến lập cuộc đời riêng tư. Điều hiển nhiên là nói như vậy không có nghĩa cho rằng tới lúc nào đó, trong đời, cha mẹ và con cái phải vạch rõ lằn ranh, phải đoạn tuyệt tương quan, phải xoay lưng nhau mà sống, không còn liên hệ gí, giống như chim rừng, cá biển. Tuyệt đối không phải thế! Tình yêu thương của cha mẹ và con cái nằm trong máu huyết, trong tim óc, trong hơi thở, trong sự sống của nhau, làm sao có thể cắt đứt?
Cắt đứt thì không thể, nhưng cách thể hiện lòng yêu thương của cha mẹ và con cái trong đời sống của thời đại ngày nay không giống như ngày xưa, ngay cả tại những nước có truyền thống bảo vệ hiếu hạnh rất nghiêm túc tại Á Châu như Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, v.v…
Ngày nay, cha mẹ không muốn để cho con cái phải bận tâm lo lắng quá nhiều hay phải chịu gánh nặng trách nhiệm chăm sóc lúc phụ mẫu về già, nên đã có kế hoạch từ những năm tháng còn làm việc để tiết kiệm tiền bạc, mua bảo hiểm, lập trương mục hưu trí, v.v… Cho đến khi về già thì cha mẹ có thể dùng số tiền đó để tự nuôi thân, hoặc có vào viện dưỡng lão thì cũng không phải nhờ vả quá nhiều đến con cái. Các chính phủ đã từ lâu giúp đỡ và khuyến khích người lao động thực hiện các chương trình phúc lợi xã hội và hưu trí như vậy.
Con cái dù có hiếu cũng không thể cưỡng lại những ràng buộc, chi phối, giới hạn của cuộc sống hàng ngày và sinh hoạt vốn có của xã hội để có thể thực hiện hiếu hạnh một cách đầy đủ giống như ngày xưa. Một ngày làm việc từ tám tiếng đồng hồ trở lên, suốt năm hoặc sáu ngày một tuần, cuối tuần thì phải lo cho gia đình vợ chồng con cái, còn thì giờ đâu để chăm sóc cho cha mẹ già, đặc biệt cha mẹ già bệnh tật. Cho nên, đưa cha mẹ già vào viện dưỡng lão là điều khó tránh khỏi. Nếu thật sự vì hoàn cảnh không thể xoay xở của con cái thì cha mẹ nào cũng vui vẻ và thông cảm. Nhưng điều quan trọng là tấm lòng, là tình thương yêu kính trọng cha mẹ của con cái có còn nguyên vẹn hay không. Không có thì giờ để trực tiếp chăm sóc cho cha mẹ là một chuyện, có để tâm lo lắng, suy nghĩ, quan tâm, tới lui thăm lom và an ủi cha mẹ hay không là chuyện khác. Điều cha mẹ già cần nơi con cái chính là chuyện sau này đó, tức là sự quan tâm, thăm lom, an ủi và có mặt thường xuyên của con cái. Có vào viện dưỡng lão rồi mới thấy điều đó nó quan trọng, nó cần thiết đối với những người già như thế nào! Tội nghiệp biết bao!
Nói đi rồi cũng nên nói lại, rằng là người con Phật thì phải sớm biết điều đó ắt xảy ra, vì đó là quy luật sinh, già, bệnh, và chết. Người con Phật cần học cách và tự tu tập như thế nào để đến khi mình ở tuổi già, sống trong viện dưỡng lão một mình, nằm trên giường bệnh, hoặc trước lúc lâm chung vẫn có thể giữ được tâm bình khí hòa, hay cao hơn nữa là an nhiên tự tại. Làm được như vậy thì đúng là không uổng công đức Phật suốt gần năm mươi năm một mình với ba y và bình bát vân du khắp lưu vực Sông Hằng để đem giáo pháp cứu khổ mà cảm hóa chúng sinh.
Theo: thuvienhoasen.org
Vu Lan là ngày thể hiện tình người thắm thiết trong cuộc sống nhân sinh, mang tính văn hóa đạo đức tâm linh, văn hóa đạo đức tình người. Ngày lễ hội này đã ăn sâu trong lòng mỗi người dân Việt, cũng như sự ảnh hưởng của nó lan tỏa khắp cộng đồng nhân loại, thắm đượm tinh thần từ bi của Đạo Phật.
Mỗi năm đến mùa Vu Lan, trong lòng chúng ta lại rộn lên một niềm hiếu hạnh, nhớ thương cha mẹ nhiều hơn. Đây là dịp làm ấm lại ân tình ân nghĩa sâu đậm của cha mẹ, công ơn sanh thành dưỡng dục nặng tợ cù lao, để rồi trong mỗi thời khắc của cuộc sống, chúng ta không bao giờ quên ơn cha mẹ dù còn sống hay đã khuất. Không phải đợi đến Rằm Tháng Bảy chúng ta mới cảm thấy thương nhớ cha mẹ, mà phải tâm niệm rằng ngày nào, giờ nào, phút nào, tình yêu thương cha mẹ vẫn luôn chứa chan trong lòng mỗi người con hiếu hạnh.
“Nghĩ về mẹ trời luôn tươi sắc nắng,
Hoa trong vườn không gió cũng xôn xao”.
Vu Lan là ngày thể hiện tình người thắm thiết trong cuộc sống nhân sinh, mang tính văn hóa đạo đức tâm linh, văn hóa đạo đức tình người. Ngày lễ hội này đã ăn sâu trong lòng mỗi người dân Việt, cũng như sự ảnh hưởng của nó lan tỏa khắp cộng đồng nhân loại, thắm đượm tinh thần từ bi của Đạo Phật. Ngày Vu Lan không chỉ dành riêng cho người phật tử hay trong Đạo Phật, mà còn là mùa lễ hội văn hóa của tình người, mở rộng tâm hồn để kết nối nhịp cầu yêu thương với mọi người và tất cả chúng sanh trong cùng khắp pháp giới. Tinh thần ảnh hưởng của ngày lễ hội thù thắng này có tác dụng rất mạnh mẽ trong xã hội, mang tính nhân văn cao cả, suy tiến mọi ân tình ân nghĩa trong cuộc sống, khuyến khích mọi người sống có luân thường đạo lý theo quy luật vận hành tự nhiên của nhân quả.
Khi Đạo Phật du nhập vào nền văn hóa nước ta, bên cạnh những lời dạy đầy minh triết của Đức Phật nhằm chuyển hóa thân tâm, đạt đến mục tiêu tối thượng là giác ngộ giải thoát, thì tinh thần của ngày lễ Vu Lan cũng dần dần trở thành ngày lễ hội truyền thống của dân tộc. Dầu có bề bộn công việc gì, đến ngày này chúng ta đều về chùa, dự vào pháp phần của Phật, nghe quý thầy giảng về công ơn cha mẹ, cách báo hiếu, đền ơn đáp nghĩa, chúng ta mới thấy hết ý nghĩa trong đời sống đạo đức tâm linh. Mỗi chúng ta đều mang trong mình dòng máu của tổ tiên, ông bà, cha mẹ. “Mộc bổn thủy nguyên”, ai ai cũng có nguồn cội gốc gác của mình.
“Cây có cội mới trổ cành xanh lá,
Nước có nguồn mới tỏa khắp rạch sông”.
Vu Lan được xem là “ngày về nguồn”, là dịp để truy niệm nguồn gốc hiện hữu của mình trên thế gian, và những ân tình đã cưu mang chúng ta tồn tại, phát triển trong cuộc đời này. Sự sống của chúng ta được tiếp diễn bằng những mối tương duyên, tương quan của mọi người xung quanh, thân hoặc sơ, trực tiếp hay gián tiếp đều ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của chúng ta. Không một ai có thể tự tách rời ra mà tồn tại được. Đây là tinh thần nhân văn cao cả thể hiện trong ý nghĩa về lý nhân duyên sinh, trùng trùng duyên khởi. Nếu mọi người đều hiểu được đạo lý này, mình vì mọi người, mọi người vì mình thì xã hội sẽ tươi đẹp, thấm đượm tinh thần từ bi, vô ngã vị tha của Đạo Phật.
Tất cả chúng ta có mặt trên cõi đời này đều do công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ. Từ thuở bé, cha mẹ đã lo cho ta từng cái ăn, cái mặc. Đến khi lớn lên, lại lo cho chúng ta đến trường trau dồi kiến thức, mai sau có công danh sự nghiệp cho mình tiến thân. Không những thế, cha mẹ sợ chúng ta hư hỏng nên hướng vào môi trường đạo đức tâm linh, đưa đến chùa quy y Tam Bảo, biết cách ăn ở hiền thiện, để từ đó chúng ta làm hành trang bước vào đời một cách tự tin và vững chãi. Vì vậy, công ơn cha mẹ thật vô bờ bến, mà bổn phận mỗi người con phải tự mình ghi khắc trong tim. Nếu chúng ta không thương cha mẹ một cách chân tình thì đối với những ân tình ân nghĩa khác trong xã hội, chúng ta cũng không thể báo đáp trọn vẹn. Giả chăng nếu có, cũng chỉ là một hình thức vụ lợi để mưu cầu cho riêng mình.
Có thể nói, hiếu đạo là nền tảng đạo đức của xã hội loài người, là nền móng căn bản hướng đến lầu cao trí tuệ, là tiêu chí căn bản của người tu. Tâm hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật, Đạo hiếu tức là Đạo Phật. Là người phật tử đến chùa tụng kinh, làm mọi việc thiện lành, lại sống bất hiếu, đối xử tệ bạc với cha mẹ thì không xứng đáng là người đệ tử Phật. Trong kinh, Đức Phật dạy: “Gặp thời không có Phật, khéo thờ cha mẹ tức là thờ Phật”. Đức Phật đã nâng địa vị của cha mẹ lên ngang tầm với Ngài, xem cha mẹ tại tiền như Phật tại thế mà hết lòng phụng thờ, nuôi dưỡng cho trọn đạo làm con. Như thế, chúng ta có thể hất hủi, xem thường cha mẹ mình chăng? Thơ ca dân gian cũng đã truyền tụng:
“Cha già là Phật Thích Ca,
Mẹ già như thể Phật Bà Quan Âm.
Nhớ ngày xá tội vong nhân,
Lên chùa lễ Phật đền ơn sanh thành”.
Sự hiếu thảo của con cháu là niềm hạnh phúc lớn lao nhất của cha mẹ khi tuổi đã xế chiều. Đối với người già, các nhu cầu tiêu thụ về đời sống vật chất không nhiều, điều cần thiết nhất là niềm vui tinh thần khi được nhìn thấy con cháu ngoan hiền, gia đình đông đủ, sum họp vui vầy hạnh phúc bên nhau. Vì vậy, khi cha mẹ còn sống, chúng ta nên hết lòng phụng dưỡng, thường xuyên lui tới hỏi han, thăm nom, chăm sóc để không phải hối tiếc về sau khi cha mẹ đã lìa đời. Chúng ta đến chùa, học hiểu phật pháp rồi đem về Phật hóa gia đình, làm cho gia đình hạnh phúc, xã hội bình an phúc lạc.
Bất hạnh thay cho những ai không còn cha mẹ hiện hữu trên đời để vỗ về sưởi ấm con tim, không còn dịp để phụng dưỡng, đền đáp thâm ân cao vời của cha mẹ, thì đến ngày Vu Lan nên một lòng chí thành tưởng nhớ về hai đấng sanh thành với niềm tôn kính nhất, phát tâm làm mọi điều thiện lành, sống tốt đời đẹp đạo, hồi hướng công đức cho cha mẹ sớm siêu sanh về cõi giới an lành. Đó cũng là cách báo đáp công ơn cha mẹ khi người đã khuất.
“Nếu mình hiếu kính mẹ cha,
Mai sau con hiếu với ta khác gì.
Nếu mình ăn ở vô nghì,
Đừng mong con hiếu làm gì uổng công”.
Từ cổ chí kim, Đông phương hay Tây phương đều suy tiến đạo hiếu. Tinh thần của ngày lễ Vu Lan được thể hiện trên ba phương diện: lòng biết ơn công lao sanh thành dưỡng dục của cha mẹ, phương pháp báo đáp công ơn đó và nhân quả tất yếu của đạo hiếu. Chúng ta nên biết, hiếu kính phải đi đôi với hiếu dưỡng. Lòng biết ơn cha mẹ phải được thể hiện bằng những hành động việc làm cụ thể, phụng dưỡng cha mẹ về vật chất lẫn tinh thần, có như vậy mới đầy đủ ý nghĩa tri ân và báo ân. Từ những ý nghĩ và hành động báo hiếu đó sẽ đưa đến kết quả tốt đẹp cho những người con hiếu thảo. Vì thế, ngày Vu Lan cũng là dịp để suy tiến đạo lý nhân quả, khuyên mọi người sống hay, sống đẹp, sống có ý nghĩa. Sống là môt nghê thuật. Chúng ta phải sống hiếu thảo với cha mẹ, hiếu kính với người trên, hiếu hòa với kẻ dưới, hiếu thuận với mọi người và hiếu sinh với vạn loại. Như vậy, ngày lễ hội Vu Lan mang nhiều ý nghĩa giá trị luân lý đạo đức, đề cao mọi ân tình ân nghĩa trong cuộc sống nhân sinh và vạn loại.
Vu Lan là nhịp cầu yêu thương, được truyền thông từ quá khứ đến hiện tại và tương lai. Chúng ta không chỉ nhớ ơn những người đang cưu mang mình mà còn tri niệm công ơn của những người đã khuất như cửu huyền thất tổ, đa sanh phụ mẫu, thất thế phụ mẫu, hay những chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn, những người đã hy sinh xương máu cho nền độc lập tự do của tổ quốc, để hôm nay chúng ta được sống trong cảnh thái bình, no ấm. Nhiều đàn tràng chẩn tế, cầu siêu bạt độ, chẩn thí âm linh… được các cấp Giáo hội và chính quyền tổ chức tại các tỉnh thành cũng nhằm mục đích thể hiện tinh thần đền ơn đáp nghĩa cao đẹp này.
Tinh thần của mùa lễ hội Vu Lan giáo dục lòng nhân ái đối với kẻ còn người mất, khơi mở tấm lòng độ lượng bao dung trong mối quan hệ tương duyên giữa mình và vạn loại. Tình yêu thương đất nước, giống nòi, đạo pháp, dân tộc, tinh thần tôn sư trọng đạo, yêu thương cha mẹ, mọi người, mọi loài… được suy tiến trong mọi khía cạnh đạo đức của xã hội vào dịp Đại lễ Vu Lan. Đây cũng là dịp thể hiện tinh thần cứu khổ độ sanh, mang thông điệp từ bi của Đạo Phật vào đời, chuyển hóa khổ đau, kết nối nhịp cầu yêu thương, xây dựng xã hội ngày thêm tươi đẹp, bình an, phúc lạc.
Thiền Viện Trúc Lâm Viên Ngộ
Phan Rang - Ninh Thuận.
Mùa Vu Lan - PL. 2554
Thích Thông Huệ
Nơi đây giao lưu kết nối anh chị em áo lam khắp mọi nơi.
Nơi cảm nhận những cảm xúc vui buồn của dòng máu Lam.
Nơi mang đến những nét đẹp của tình lam, cùng đồng hành sát cánh với anh chị em áo lam Quốc Nội & Hải Ngoại.
Tình Lam mong càng ngày phong phú hơn với các bài viết sưu khảo từ các nơi.
Xin hãy cùng chung tay chia sẻ với Tình Lam cho vòng tay thân ái luôn mãi kết chặt tình lam.
"Mỗi người là một cành hoa bay về đây góp gió
Làm thành vườn hoa,vườn hoa Tình Lam chúng mình"

Tình Lam rộng khắp bốn phương
Kết tình huynh đệ thân thương một nhà

Nguyện theo ngọn đuốc Tuệ, đi tiếp con đường Lam.
Mãi theo Hoa Sen Trắng, thơm ngát Tình áo Lam.
Sống không giận không oán trách
Sống mỉm cười với thử thách chông gai
Sống vươn lên theo kịp ánh ban mai
Sống an hoà với những người chung sống
Sống là động nhưng lòng luôn bất động
Sống là thương nhưng lòng chẳng vấn vương
Sống hiên ngang danh lợi xem thường
Tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến