23/1/10
22/1/10
SUY NGHĨ VỀ HƯỚNG GIÁO DUC ÐẠO PHẬT CHO TUỔI TRẺ
Posted by Unknown on 22:18
Y NGHĨ VỀ HƯỚNG
GIÁO DUC ÐẠO PHẬT CHO TUỔI TRẺ
TT Thích Tuệ Sỹ
--- o0o ---
Phật giáo Việt nam đang chứng kiến những xáo trộn và khủng hoảng chưa từng có trong lịch sử. Các mô hình tổ chức, những lễ tiết sinh hoạt, từ ma chay, cưới hỏi các thứ, được cố gắng rập khuôn theo mô hình phương Tây một cách vội vã đã làm xói mòn phần nào truyền thống tâm linh của dân tộc. Thêm vào đó, dưới tác động của xã hội tiêu thụ, và sức ép của quyền lực chính trị làm nảy sinh những tâm trạng bệnh hoạn do bởi quan điểm thế quyền và giáo quyền thiếu nền tảng giáo lý. Tình trạng đó tất nhiên đã có những tác động tiêu cực lên đường hướng giáo dục thanh niên Phật tử Việt nam.
Ngày nay, nói đến tuổi trẻ Việt nam, có lẽ nên tượng hình như hai đường thảng mà điểm hội tụ là một điểm trong xã hội tiêu thụ. Ðó là hai bộ phận tuổi trẻ trong nước và ngoài nước. Tuy tất cả cùng được giáo dục theo mô hình giáo dục phương Tây, nhưng do khác biệt định chế xã hội dựa trên quyền lực chính trị chứ không phải do xu hướng phát triển tự nhiên. Ðó là sự khác biệt giả tạo như vũng sình, không biết đâu là chỗ chắc thật để bám vào mà thoát thân. Tuổi trẻ Việt nam đang bị bật rễ, do đó có nguye mất hương, hay thực sự đã mất hướng. Tuổi trẻ của đạo Phật Việt nam cũng không ngoại lệ, và không dễ dàng vượt qua tình trạng mất hướng này. Ở đây tôi nói mất hướng là nhìn từ điểm đứng dân tộc. Tuổỉ trẻ ở nước ngoài chỉ cần quên, hay tạm thời quên, nguồn gốc Việt nam của mình, thì hướng đi cho nhân cách được xác định ngay từ khi vừa bước chân vào cỗng Ðại học. Nói cách khác, tuổi tre Viêt nam hải ngoại không phải hoàn toan bị bật rễ, nhưng ở trong tinh trạng di thực. Quýt phương Nam đêm trồng trên đất phương Bắc, có thể ngọt hơn, có thể chua hơn, va cũng có thể èo uột vì không hợp phong thổ. Tuổi trẻ trong nước là thân cây còn dính chặt với gốc rễ trên bản địa. Nhưng để sinh tồn, và muốn phát triển nhanh chóng, bị sức hút của sự thăng tiến tác động từ bên ngoài, nên có nguy cơ bật rễ. Ðại bộ phận tuổi trẻ Việt nam ngày nay biết rất ít vè quá khứ ông cha mình, đã yêu nhau như thế nào, đã suy nghĩ như thế nào để bắt kịp những giá trị tâm linh phổ quát của nhân loại.
Tuổi trẻ của đạo Phật Việt nam tuy có thể được tin tưởng là còn cố bám chặt lấy gốc rễ truyền thống để vươn lên, nhưng do sự thiếu trách nhiệm hoặc thiếu nhận thức về hướng đi của thời đại của những người đang đứng trên cương vị giáo dục vô tình chẳng khác nào bác sỹ không còn biết liệu pháp nào hay hơn là cho uống thuốc ngủ để người bịnh quên đi những nhức nhối của thời đại mà tuổi trẻ cần phải biết đẻ chọn hướng đí tương lai cho đời mình. Mặt khác, do sức ép chính trị mà tuổi trẻ cần phải được tập hợp thành lực lượng tiền phong và hậu bị để bảo vệ chế độ, do đó việc giảng giải đạo Phật cho tuổi trẻ không được phép vượt qua các cỗng chùa. Bên trong cỗng chùa, tuổi trẻ chỉ đựơc giảng dạy những ý nghĩa vô thường hay vô ngã không như là quy luật vận động đê tồn tại, phát triển và huỷ diệt của thiên nhiên và xã hội, mà như là một bức tranh toàn xám của cuộc đời được tô trét bởi những người mà tuổi đời đã mệt mỏi với những thành công và thất bại đã làm thui chột ý chí.
Trong một xã hội hội mà các giá trị tâm linh truyền thống đang bị băng hoại, một số thanh niên tác quái tại các đố thị lớn dựa vào quyền lực chính trị của cha chú, hay tiền của bất chính của bố mẹ; một số khác miệt mài học chỉ để làm thuê, làm những người nô lệ kiểu mới trung thành với những ông chủ giàu sụ. Một số khác, cam chịu thân phận nghèo đói, thất học, cam chịu tất cả nhục nhã của một dân tộc nghèo nàn lạc hậu. Trong tình trạng đó, sự hiện diện của các đoàn sinh GDPT, những đơn vị tập hợp các thanh niên biết tìm lẽ sông cho bản thân, thật sự là một thách thức xã hội, mà quyền lực chính trị cảm thấy như một đe doạ nếu không vận dụng được để phục vụ cho tham vọng đen tối, mà vì thâm vọng ấy có khi sẵn sàng mãi quốc cầu vinh. Như thế thì, tất nhiên là ảo tưởng khi nói rằng, chúng ta chỉ tập họp tuổi trẻ để dạy đạo, không cần biết cái gì khác nữa. Nói thế chẳng khác nào lùa những nai con vào một chỗ để cho cọp dữ dễ dàng thao túng.
Tất nhiên, đất nước cần tuổi trẻ để xây dựng. Ðạo pháp cũng cần tuổi trẻ để thể hiện bản hoài tiếp vật lợi sinh của mình. Theo bản hoài đó, giáo dục đạo Phật cho tuổi trẻ không chi có mục đích chiêu dụ họ vào trong bốn vách tường nhà chùa để cách ly những phòng trà, hộp đêm, những môi trương cám dõ, sa đọa. Tuy nhiên, cơ bản giáo dục đạo Phật vẫn phải là rèn luyện đạo đức, phát trình độ nhận thức tâm linh.
Trước hết, hãy nói về rèn luyện đạo đức. Ở đây hoàn toàn không có vấn đề nhồi nhét những tín điều đức lý. Nghĩa là, không nói với tuổi trẻ không được làm điều nầy, khhông được làm điều kia. Tuổi trẻ có thể làm bất cứ điều gì mà họ tự thấy thích ứng với thời đại. Những không để cho tuổi trẻ bị lôi cuốn bởi những yếu tố độc hại của thời đại, không bị lệch hướng nhận thức bởi các phong trào thời thượng, do đó cần thiết lập một không gian an toàn, và di động. Không gian an toàn đó là bồ đề tâm. Tính di động, đó là vô trụ xứ của Bồ tát. Chúng ta cần nói thêm hai điểm này.
Lớn lên tại các đô thị phồn vinh, rồi bước vào xã hội với học vị cao, mức sống ổn định, một bộ phận tuổi trẻ ít khi trực tiếp sống với những đau khổ của các bạn trẻ khác ở những vùng đất tối tăm xa lạ. Thiếu đồng cảm về những khổ đau của đồng loậi, do đó cũng thiếu luôn cả nhận thức về thực chất của sự sống, không thể hiểu hết tất cả ý nghĩa thiết cốt của khát vọng sinh tồn. Cho nên, đưa đạo Phật đến với tuổi trẻ, phải có nghĩa là đưa tuổi trẻ đến giáp mặt với thực tế của sinh tồn. Ðó là làm phát khởi bồ đê tâm nơi tuổi trẻ: ỡNơi nào hiểm nạn, tôi nguyện sẽ là cầu đó. Nơi nào tối tăm, tôi nguyện sẽ ngọn đuốc sáng. Ðây có thể là ước nguyện xa vời, thậm chí sáo rỗng đối với một số người. Nhưng đó chính lâ mặt đất kim cang để trên đó tuổi trẻ tự vạch hướng đi cho mình, tự quy định những giá trị sống thực cho chính đời mình.
Về tính di động, đó là tính mở rộng, không tự câu thúc vào trong một không gian xã hội chật hẹp, để có thể có tầm nhìn xa hơn, vượt ngoài thành kiến và truyền thống khép kín của xã hội mình đang sống. Nói cụ thể hơn, tuổi trẻ được giáo dục để luôn luôn ở trong tư thế sẵn sàng lên đường. Ðến bất cứ nơi nào trên trái đất này, nơi mà đau khổ được sống thực hơn, hạnh phúc được trắc nghiệm chân thực hơn. Trong một ý nghĩa khác, tính di động như vậy đồng nghĩa với tính phiêu lưu. Từ khi sống tại njhững đo thji được xem là ổn định, nhân loại đã dập tắt đi tính phiêu lưu nơi tuổi trẻ, nhưnh khơi dạy tính du lịch nơi người lớn đii tìm những lạc thú mới để thay đỏi khẩu vị thường nhật.
Tinh thần vô trụ xứ tất nhiên có nhiều điểm khác biệt. Vô trụ xứ nói, Không trụ sinh tử, không trụ Niết bàn.ữ Ðó là tinh thần khai phóng, không bị buộc chặt vào bất cứ giá trị truyền thông nào. Tuổi trẻ cần được học hỏi để sống với tinh thần khai phóng và bao dung, để tự minh định giá chuẩn xác giá trị các nền văn minh nhân loại, tự mình chọn hướng đi thích hợp trong dòng phát triển hài hoà cuta tất cả các nên văn minh nhân loại, tuy khác biệt tín ngương, khác biệt tập quán tư duy, khác biệt cả phong thái sinh hoạt thường nhật.
Về sự phát triển trình độ nhận thức tâm linh nơi tuổi trẻ, ở đây chúng ta nói đến sự học tập thông qua Kinh điển truyền thống. Tam tạng Thánh điển là kho tàng kiến thức bao la. Dựa trên những lời dạy căn bản của đức Phật về giá trị của sự sống, bản chất của đau khổ và hạnh phúc, trên đó nhiều quy luật về thiên nhiên, về xã hội, về tâm lý, ngôn ngữ, của con người lần lượt được phát hiện qua nhiều thời đại trong nhiều khu vực địa lý có truyền thống lịch sử khác nhau. Tuy nhiên, chúng ta cũng biết rằng, trong toàn bộ lịch sử các nền văn minh nhân loại, đang tồn tại hay đã biêt mất, không một học thuyết nào mà không từng bị nhận thức của người đời sau vượt qua. Có học thuyết bị vượt qua và bị đào thải luôn.ốạ học thuyết bị vượt qua, rồi được phục hoạt. Nhưng có rất ít học thuyết được phục hoạt mà bản chất không bị biến dạng. Biến dạng cho đến mức nếu so sánh với quá khứ, nó như là quái thai. Giáo lý của Phật khẳng định quy luật vô thường, nên vấn đè là khế lý và khế cơ, chứ không phải là vấn đề bị hay không bị vựot và đào thải.
Tuổi trẻ học Phật không có mục đích trở thành nhà nghiên cứu Phật học, mà học Phật là tự thực tập khả năng tư duy bén nhạy, linh hoạt, để có thể nhìn thẳng vào vào bản chất sự sống. Cho nên, sư học Phật pháp không hề cản trở sự học thế gian pháp; kiến thức Phật học không xung dột với kiến thức thế tục. Duy chỉ có điều khác biệt, là học Phật khởi đi từ thực trạng dâu khổ của nhân sinh để nhận thức đâu là hạnh phục chân thật. Bi và trí là đôi cánh chắc thật sẽ nâng đỡ tuổi trẻ bay liẹng vào suốt không gian vô tận của đời sống
GIÁO DUC ÐẠO PHẬT CHO TUỔI TRẺ
TT Thích Tuệ Sỹ
--- o0o ---
Phật giáo Việt nam đang chứng kiến những xáo trộn và khủng hoảng chưa từng có trong lịch sử. Các mô hình tổ chức, những lễ tiết sinh hoạt, từ ma chay, cưới hỏi các thứ, được cố gắng rập khuôn theo mô hình phương Tây một cách vội vã đã làm xói mòn phần nào truyền thống tâm linh của dân tộc. Thêm vào đó, dưới tác động của xã hội tiêu thụ, và sức ép của quyền lực chính trị làm nảy sinh những tâm trạng bệnh hoạn do bởi quan điểm thế quyền và giáo quyền thiếu nền tảng giáo lý. Tình trạng đó tất nhiên đã có những tác động tiêu cực lên đường hướng giáo dục thanh niên Phật tử Việt nam.
Ngày nay, nói đến tuổi trẻ Việt nam, có lẽ nên tượng hình như hai đường thảng mà điểm hội tụ là một điểm trong xã hội tiêu thụ. Ðó là hai bộ phận tuổi trẻ trong nước và ngoài nước. Tuy tất cả cùng được giáo dục theo mô hình giáo dục phương Tây, nhưng do khác biệt định chế xã hội dựa trên quyền lực chính trị chứ không phải do xu hướng phát triển tự nhiên. Ðó là sự khác biệt giả tạo như vũng sình, không biết đâu là chỗ chắc thật để bám vào mà thoát thân. Tuổi trẻ Việt nam đang bị bật rễ, do đó có nguye mất hương, hay thực sự đã mất hướng. Tuổi trẻ của đạo Phật Việt nam cũng không ngoại lệ, và không dễ dàng vượt qua tình trạng mất hướng này. Ở đây tôi nói mất hướng là nhìn từ điểm đứng dân tộc. Tuổỉ trẻ ở nước ngoài chỉ cần quên, hay tạm thời quên, nguồn gốc Việt nam của mình, thì hướng đi cho nhân cách được xác định ngay từ khi vừa bước chân vào cỗng Ðại học. Nói cách khác, tuổi tre Viêt nam hải ngoại không phải hoàn toan bị bật rễ, nhưng ở trong tinh trạng di thực. Quýt phương Nam đêm trồng trên đất phương Bắc, có thể ngọt hơn, có thể chua hơn, va cũng có thể èo uột vì không hợp phong thổ. Tuổi trẻ trong nước là thân cây còn dính chặt với gốc rễ trên bản địa. Nhưng để sinh tồn, và muốn phát triển nhanh chóng, bị sức hút của sự thăng tiến tác động từ bên ngoài, nên có nguy cơ bật rễ. Ðại bộ phận tuổi trẻ Việt nam ngày nay biết rất ít vè quá khứ ông cha mình, đã yêu nhau như thế nào, đã suy nghĩ như thế nào để bắt kịp những giá trị tâm linh phổ quát của nhân loại.
Tuổi trẻ của đạo Phật Việt nam tuy có thể được tin tưởng là còn cố bám chặt lấy gốc rễ truyền thống để vươn lên, nhưng do sự thiếu trách nhiệm hoặc thiếu nhận thức về hướng đi của thời đại của những người đang đứng trên cương vị giáo dục vô tình chẳng khác nào bác sỹ không còn biết liệu pháp nào hay hơn là cho uống thuốc ngủ để người bịnh quên đi những nhức nhối của thời đại mà tuổi trẻ cần phải biết đẻ chọn hướng đí tương lai cho đời mình. Mặt khác, do sức ép chính trị mà tuổi trẻ cần phải được tập hợp thành lực lượng tiền phong và hậu bị để bảo vệ chế độ, do đó việc giảng giải đạo Phật cho tuổi trẻ không được phép vượt qua các cỗng chùa. Bên trong cỗng chùa, tuổi trẻ chỉ đựơc giảng dạy những ý nghĩa vô thường hay vô ngã không như là quy luật vận động đê tồn tại, phát triển và huỷ diệt của thiên nhiên và xã hội, mà như là một bức tranh toàn xám của cuộc đời được tô trét bởi những người mà tuổi đời đã mệt mỏi với những thành công và thất bại đã làm thui chột ý chí.
Trong một xã hội hội mà các giá trị tâm linh truyền thống đang bị băng hoại, một số thanh niên tác quái tại các đố thị lớn dựa vào quyền lực chính trị của cha chú, hay tiền của bất chính của bố mẹ; một số khác miệt mài học chỉ để làm thuê, làm những người nô lệ kiểu mới trung thành với những ông chủ giàu sụ. Một số khác, cam chịu thân phận nghèo đói, thất học, cam chịu tất cả nhục nhã của một dân tộc nghèo nàn lạc hậu. Trong tình trạng đó, sự hiện diện của các đoàn sinh GDPT, những đơn vị tập hợp các thanh niên biết tìm lẽ sông cho bản thân, thật sự là một thách thức xã hội, mà quyền lực chính trị cảm thấy như một đe doạ nếu không vận dụng được để phục vụ cho tham vọng đen tối, mà vì thâm vọng ấy có khi sẵn sàng mãi quốc cầu vinh. Như thế thì, tất nhiên là ảo tưởng khi nói rằng, chúng ta chỉ tập họp tuổi trẻ để dạy đạo, không cần biết cái gì khác nữa. Nói thế chẳng khác nào lùa những nai con vào một chỗ để cho cọp dữ dễ dàng thao túng.
Tất nhiên, đất nước cần tuổi trẻ để xây dựng. Ðạo pháp cũng cần tuổi trẻ để thể hiện bản hoài tiếp vật lợi sinh của mình. Theo bản hoài đó, giáo dục đạo Phật cho tuổi trẻ không chi có mục đích chiêu dụ họ vào trong bốn vách tường nhà chùa để cách ly những phòng trà, hộp đêm, những môi trương cám dõ, sa đọa. Tuy nhiên, cơ bản giáo dục đạo Phật vẫn phải là rèn luyện đạo đức, phát trình độ nhận thức tâm linh.
Trước hết, hãy nói về rèn luyện đạo đức. Ở đây hoàn toàn không có vấn đề nhồi nhét những tín điều đức lý. Nghĩa là, không nói với tuổi trẻ không được làm điều nầy, khhông được làm điều kia. Tuổi trẻ có thể làm bất cứ điều gì mà họ tự thấy thích ứng với thời đại. Những không để cho tuổi trẻ bị lôi cuốn bởi những yếu tố độc hại của thời đại, không bị lệch hướng nhận thức bởi các phong trào thời thượng, do đó cần thiết lập một không gian an toàn, và di động. Không gian an toàn đó là bồ đề tâm. Tính di động, đó là vô trụ xứ của Bồ tát. Chúng ta cần nói thêm hai điểm này.
Lớn lên tại các đô thị phồn vinh, rồi bước vào xã hội với học vị cao, mức sống ổn định, một bộ phận tuổi trẻ ít khi trực tiếp sống với những đau khổ của các bạn trẻ khác ở những vùng đất tối tăm xa lạ. Thiếu đồng cảm về những khổ đau của đồng loậi, do đó cũng thiếu luôn cả nhận thức về thực chất của sự sống, không thể hiểu hết tất cả ý nghĩa thiết cốt của khát vọng sinh tồn. Cho nên, đưa đạo Phật đến với tuổi trẻ, phải có nghĩa là đưa tuổi trẻ đến giáp mặt với thực tế của sinh tồn. Ðó là làm phát khởi bồ đê tâm nơi tuổi trẻ: ỡNơi nào hiểm nạn, tôi nguyện sẽ là cầu đó. Nơi nào tối tăm, tôi nguyện sẽ ngọn đuốc sáng. Ðây có thể là ước nguyện xa vời, thậm chí sáo rỗng đối với một số người. Nhưng đó chính lâ mặt đất kim cang để trên đó tuổi trẻ tự vạch hướng đi cho mình, tự quy định những giá trị sống thực cho chính đời mình.
Về tính di động, đó là tính mở rộng, không tự câu thúc vào trong một không gian xã hội chật hẹp, để có thể có tầm nhìn xa hơn, vượt ngoài thành kiến và truyền thống khép kín của xã hội mình đang sống. Nói cụ thể hơn, tuổi trẻ được giáo dục để luôn luôn ở trong tư thế sẵn sàng lên đường. Ðến bất cứ nơi nào trên trái đất này, nơi mà đau khổ được sống thực hơn, hạnh phúc được trắc nghiệm chân thực hơn. Trong một ý nghĩa khác, tính di động như vậy đồng nghĩa với tính phiêu lưu. Từ khi sống tại njhững đo thji được xem là ổn định, nhân loại đã dập tắt đi tính phiêu lưu nơi tuổi trẻ, nhưnh khơi dạy tính du lịch nơi người lớn đii tìm những lạc thú mới để thay đỏi khẩu vị thường nhật.
Tinh thần vô trụ xứ tất nhiên có nhiều điểm khác biệt. Vô trụ xứ nói, Không trụ sinh tử, không trụ Niết bàn.ữ Ðó là tinh thần khai phóng, không bị buộc chặt vào bất cứ giá trị truyền thông nào. Tuổi trẻ cần được học hỏi để sống với tinh thần khai phóng và bao dung, để tự minh định giá chuẩn xác giá trị các nền văn minh nhân loại, tự mình chọn hướng đi thích hợp trong dòng phát triển hài hoà cuta tất cả các nên văn minh nhân loại, tuy khác biệt tín ngương, khác biệt tập quán tư duy, khác biệt cả phong thái sinh hoạt thường nhật.
Về sự phát triển trình độ nhận thức tâm linh nơi tuổi trẻ, ở đây chúng ta nói đến sự học tập thông qua Kinh điển truyền thống. Tam tạng Thánh điển là kho tàng kiến thức bao la. Dựa trên những lời dạy căn bản của đức Phật về giá trị của sự sống, bản chất của đau khổ và hạnh phúc, trên đó nhiều quy luật về thiên nhiên, về xã hội, về tâm lý, ngôn ngữ, của con người lần lượt được phát hiện qua nhiều thời đại trong nhiều khu vực địa lý có truyền thống lịch sử khác nhau. Tuy nhiên, chúng ta cũng biết rằng, trong toàn bộ lịch sử các nền văn minh nhân loại, đang tồn tại hay đã biêt mất, không một học thuyết nào mà không từng bị nhận thức của người đời sau vượt qua. Có học thuyết bị vượt qua và bị đào thải luôn.ốạ học thuyết bị vượt qua, rồi được phục hoạt. Nhưng có rất ít học thuyết được phục hoạt mà bản chất không bị biến dạng. Biến dạng cho đến mức nếu so sánh với quá khứ, nó như là quái thai. Giáo lý của Phật khẳng định quy luật vô thường, nên vấn đè là khế lý và khế cơ, chứ không phải là vấn đề bị hay không bị vựot và đào thải.
Tuổi trẻ học Phật không có mục đích trở thành nhà nghiên cứu Phật học, mà học Phật là tự thực tập khả năng tư duy bén nhạy, linh hoạt, để có thể nhìn thẳng vào vào bản chất sự sống. Cho nên, sư học Phật pháp không hề cản trở sự học thế gian pháp; kiến thức Phật học không xung dột với kiến thức thế tục. Duy chỉ có điều khác biệt, là học Phật khởi đi từ thực trạng dâu khổ của nhân sinh để nhận thức đâu là hạnh phục chân thật. Bi và trí là đôi cánh chắc thật sẽ nâng đỡ tuổi trẻ bay liẹng vào suốt không gian vô tận của đời sống
21/1/10
VIẾT TRÊN CÁT
Posted by Unknown on 20:51
Tôi ngồi lặng lẽ, nhìn những lá phong vàng sậm và đỏ ối, âm thầm rơi trong không gian tinh mơ quanh khu nhà quàn. Thấp thoáng vào, ra, là những người chít khăn tang trắng, gương mặt phờ phạc, buồn rầu.
Cả một trời thu im lắng, u hoài trùm phủ quanh tôi.
Ngồi trong lòng xe nơi bãi đậu, tôi đang chờ quý thầy, trên đường tới tụng kinh hộ niệm cho người quá vãng của một gia đình nghèo mà thầy tôi vừa tình cờ biết tin.
Gió nhẹ.
Lá thu rơi.
Người còn.
Kẻ mất.
Hợp rồi tan.
Ai cũng biết thế, nhưng dường như những lá thu rơi nhẹ nhàng, thanh thản hơn con người lúc ra đi. Lá lìa cành, theo gió, bay lượn êm ả như vẫy chào cây, rồi thầm lặng nằm trên mặt đất. Đất ân cần đón lá, lá an nhiên tiếp nhận nắng mưa, và lá biết rằng, rồi lá sẽ thành đất, để đất lại nuôi cây …
Bỗng nhiên, những tiếng gào khóc bật lên từ bên trong nhà quàn, vang động, xé rách không gian đang lặng lẽ ! Tiếng khóc, tiếng kể lể, tiếng thảm thiết gọi tên người vừa chết làm xôn xao những người đang hiện diện.
Nhưng bên ngoài, nơi tôi vẫn ngồi yên trong lòng xe, gió thu vẫn thổi nhẹ, lá thu vẫn thong thả rơi, đất vẫn thầm lặng, nhẫn nhục, nhận những Đến và Đi …
Những tiếng khóc khi người-mất-người có mang chút nào ân hận vì đã chẳng tử tế đủ, khi còn nhau hay không?
Có lẽ nhiều ân hận, người ta mới khóc than như thế ! Nếu sống với nhau mà tử tế, mà thủy chung như cây với lá thì sự ra đi chỉ là tạm biệt, là chuyển hóa.
Tử tế với nhau thì có gì ân hận lúc chia tay theo lẽ vô thường!
Tiếng gào khóc càng lúc càng bi thương. Phải chi tôi có thể kể cho người đang khóc nghe một câu chuyện ngắn mà tôi từng được nghe từ một vị giảng-sư.
Hai huynh đệ đồng tu, khá thân thiết, đang cùng đi trên sa mạc. Hai vị nói đủ các thứ chuyện quanh đề tài tu học, và ở một đề tài, có sự bất đồng đến mức huynh thẳng tay giáng cho đệ một bạt tai.
Đệ không nói gì, quỳ xuống trên cát, dùng ngón tay viết giòng chữ “Hôm nay bạn tôi đã tát tôi.”
Hai người tiếp tục đi, không ai nói gì với ai nữa.
Ngang qua một khu sình lầy, người em hụt chân, lún xuống bùn. Lập tức, người anh đưa tay, kéo em lên. Không một lời cám ơn, hai người tiếp tục đi, ra khỏi sa mạc, tới vùng đồi núi. Người em nhìn quanh, tiến tới một tảng đá lớn, dùng những viên sỏi nhọn, vận dụng hết sức lực để viết trên đá giòng chữ “Hôm nay bạn tôi đã cứu tôi”.
Lúc đó, người anh mới lên tiếng hỏi:
- Sao lúc huynh tát đệ, đệ viết trên cát, mà lúc cứu đệ, đệ lại viết trên đá?
- Thưa huynh, những tàn nhẫn, đau buồn, hãy viết trên cát để cát bụi thời gian xóa nhòa đi; nhưng những tử tế, ơn nghĩa phải viết trên đá mà ghi tâm khắc cốt.
Câu chuyện chỉ có thế, nhưng nước mắt tôi đã lã chã rơi vì biết rằng, giữa cõi ta-bà chập chùng những dối gian, bội phản, tàn nhẫn này, phải có bao nhiêu bãi cát để nhân gian viết đủ ?!
Nhưng may thay, cũng an ủi, là đứng trước tảng đá, cắn ngón tay chảy máu làm mực, người con Phật còn lòng biết ơn sâu sa để viết xuống sáu chữ:
“NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT”
Huệ Trân
(Tạm biệt trăng thu- thành phố Biển Dài)
Cả một trời thu im lắng, u hoài trùm phủ quanh tôi.
Ngồi trong lòng xe nơi bãi đậu, tôi đang chờ quý thầy, trên đường tới tụng kinh hộ niệm cho người quá vãng của một gia đình nghèo mà thầy tôi vừa tình cờ biết tin.
Gió nhẹ.
Lá thu rơi.
Người còn.
Kẻ mất.
Hợp rồi tan.
Ai cũng biết thế, nhưng dường như những lá thu rơi nhẹ nhàng, thanh thản hơn con người lúc ra đi. Lá lìa cành, theo gió, bay lượn êm ả như vẫy chào cây, rồi thầm lặng nằm trên mặt đất. Đất ân cần đón lá, lá an nhiên tiếp nhận nắng mưa, và lá biết rằng, rồi lá sẽ thành đất, để đất lại nuôi cây …
Bỗng nhiên, những tiếng gào khóc bật lên từ bên trong nhà quàn, vang động, xé rách không gian đang lặng lẽ ! Tiếng khóc, tiếng kể lể, tiếng thảm thiết gọi tên người vừa chết làm xôn xao những người đang hiện diện.
Nhưng bên ngoài, nơi tôi vẫn ngồi yên trong lòng xe, gió thu vẫn thổi nhẹ, lá thu vẫn thong thả rơi, đất vẫn thầm lặng, nhẫn nhục, nhận những Đến và Đi …
Những tiếng khóc khi người-mất-người có mang chút nào ân hận vì đã chẳng tử tế đủ, khi còn nhau hay không?
Có lẽ nhiều ân hận, người ta mới khóc than như thế ! Nếu sống với nhau mà tử tế, mà thủy chung như cây với lá thì sự ra đi chỉ là tạm biệt, là chuyển hóa.
Tử tế với nhau thì có gì ân hận lúc chia tay theo lẽ vô thường!
Tiếng gào khóc càng lúc càng bi thương. Phải chi tôi có thể kể cho người đang khóc nghe một câu chuyện ngắn mà tôi từng được nghe từ một vị giảng-sư.
Hai huynh đệ đồng tu, khá thân thiết, đang cùng đi trên sa mạc. Hai vị nói đủ các thứ chuyện quanh đề tài tu học, và ở một đề tài, có sự bất đồng đến mức huynh thẳng tay giáng cho đệ một bạt tai.
Đệ không nói gì, quỳ xuống trên cát, dùng ngón tay viết giòng chữ “Hôm nay bạn tôi đã tát tôi.”
Hai người tiếp tục đi, không ai nói gì với ai nữa.
Ngang qua một khu sình lầy, người em hụt chân, lún xuống bùn. Lập tức, người anh đưa tay, kéo em lên. Không một lời cám ơn, hai người tiếp tục đi, ra khỏi sa mạc, tới vùng đồi núi. Người em nhìn quanh, tiến tới một tảng đá lớn, dùng những viên sỏi nhọn, vận dụng hết sức lực để viết trên đá giòng chữ “Hôm nay bạn tôi đã cứu tôi”.
Lúc đó, người anh mới lên tiếng hỏi:
- Sao lúc huynh tát đệ, đệ viết trên cát, mà lúc cứu đệ, đệ lại viết trên đá?
- Thưa huynh, những tàn nhẫn, đau buồn, hãy viết trên cát để cát bụi thời gian xóa nhòa đi; nhưng những tử tế, ơn nghĩa phải viết trên đá mà ghi tâm khắc cốt.
Câu chuyện chỉ có thế, nhưng nước mắt tôi đã lã chã rơi vì biết rằng, giữa cõi ta-bà chập chùng những dối gian, bội phản, tàn nhẫn này, phải có bao nhiêu bãi cát để nhân gian viết đủ ?!
Nhưng may thay, cũng an ủi, là đứng trước tảng đá, cắn ngón tay chảy máu làm mực, người con Phật còn lòng biết ơn sâu sa để viết xuống sáu chữ:
“NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT”
Huệ Trân
(Tạm biệt trăng thu- thành phố Biển Dài)
Phật Pháp Thứ Năm 21/1/2010
Posted by Unknown on 14:06
Thưa Anh Chị Em Áo Lam,
Chúng ta thường nghe kể về cậu bé La Hầu La (Rahula) ,con trai của thái tử Tất Đạt Đa (Siddharta) và công chúa Da Du Đà La (Yashodara) như là một cậu bé ham chơi, ham nghịch phá, bị đức Thế tôn quở phạt v..v.. chứ ít nghe về chú Sa Di Rahula mà sau này trưởng thành đã trở thành một trong 10 đại đệ tử Phật và còn là đệ nhất về mật hạnh nữa. Hôm nay chúng ta nói về chú Sa Di đặc biệt ấy.
Rahula là chú Sa Di đầu tiên trong Tăng đoàn của đức Phật. Hồi đó Tăng đoàn chưa có luật cho sa di nên chú bé 10 tuổi Rahula gặp rất nhiều khó khăn, gian truân và thiệt thòi ; tuy nhiên Rahula đã can đảm vượt qua, để từ một đứa trẻ con cưng tinh nghịch, ưa nói dối phỉnh gạt người, bị đức Phật quở phạt, đã trở nên một người chính chắn, khiêm tốn, nhẫn nhục hiếm có… đức Phật giao Rahula cho tôn giả Xá Lợi Phất (Sariputta) giáo dục (nên ngài Xá Lợi Phất là sư phụ của Rahula)
Một hôm, Rahula theo tôn giả Xá Lợi Phất đi khất thực ở thành Vương Xá (Rajagaha) ; trên đường đi gặp một tên lưu manh, hắn lấy cát ném vào bát của tôn giả Xá Lợi Phất, và lấy gậy đánh lên đầu Rahula đến nỗi chảy máu, máu nhỏ giọt xuống y. Hắn lại còn chưởi mắng hai thầy trò tôn giả. Rahula giận căm gan tím ruột nhưng Xá Lợi Phất an ủi: Rahula, nếu là đệ tử Phật thì cần phải nhẫn nhục, trong tâm không chứa sân hận, phải đem từ bi thương xót chúng sanh! Này Rahula, nên điều phục tâm giận dữ, nắm chắc tâm nhẫn nhục, Trên thế gian không ai có thể sánh bằng người có sức nhẫn mạnh mẽ. Sa di Rahula nghe tôn giả Xá Lợi Phất khai thị, lẳng lặng đến bên ao nước soi mặt, rửa vết thuơng trên đầu rồi an nhiên tiếp tục đi khất thực với sư phụ. Trên đường về, Sa di Rahula mới nói với tôn giả Xá Lợi Phất: con người tại sao lại ác độc như thế? Phật dạy chúng ta nhẫn nhục nhưng những hạng người ác độc ấy có hiểu không? người ta có tôn trọng chúng ta không hay lại khinh thường chúng ta mà tôn trọng những kẻ ác ấy? Lúc đầu, con tưởng mình không chịu nỗi!
Tôn giả Xá Lợi Phất nghe xong rất hoan hỷ, vì thấy Rahula nghịch phá hôm xưa nay đã tiến bộ rõ rệt, bèn đem chuyện này kể với đức Phật, đức Phật cũng thật là hoan hỷ, ngài dạy Rahula thêm: người không biết nhẫn sẽ không tiếp thu được Phật Pháp, những ai giận dữ, oán người là trái với Pháp, xa chư Tăng… Hạnh nhẫn nhục mới là hạnh an ổn, mới có thể tiêu trừ tai nạn. Từ đó, Rahula ít nói, im lặng tu hành, không xuất hiện giữa đám đông, không tỏ ra nổi bật…. đúng là con người mật hạnh đệ nhất.
Ngày mai là Viá Thành Đạo 2553 ; thân kính chúc Anh Chị Em một mùa Thành Đạo an lạc và giải thoát.
Trân trọng,
Nhóm Áo Lam
Chúng ta thường nghe kể về cậu bé La Hầu La (Rahula) ,con trai của thái tử Tất Đạt Đa (Siddharta) và công chúa Da Du Đà La (Yashodara) như là một cậu bé ham chơi, ham nghịch phá, bị đức Thế tôn quở phạt v..v.. chứ ít nghe về chú Sa Di Rahula mà sau này trưởng thành đã trở thành một trong 10 đại đệ tử Phật và còn là đệ nhất về mật hạnh nữa. Hôm nay chúng ta nói về chú Sa Di đặc biệt ấy.
Rahula là chú Sa Di đầu tiên trong Tăng đoàn của đức Phật. Hồi đó Tăng đoàn chưa có luật cho sa di nên chú bé 10 tuổi Rahula gặp rất nhiều khó khăn, gian truân và thiệt thòi ; tuy nhiên Rahula đã can đảm vượt qua, để từ một đứa trẻ con cưng tinh nghịch, ưa nói dối phỉnh gạt người, bị đức Phật quở phạt, đã trở nên một người chính chắn, khiêm tốn, nhẫn nhục hiếm có… đức Phật giao Rahula cho tôn giả Xá Lợi Phất (Sariputta) giáo dục (nên ngài Xá Lợi Phất là sư phụ của Rahula)
Một hôm, Rahula theo tôn giả Xá Lợi Phất đi khất thực ở thành Vương Xá (Rajagaha) ; trên đường đi gặp một tên lưu manh, hắn lấy cát ném vào bát của tôn giả Xá Lợi Phất, và lấy gậy đánh lên đầu Rahula đến nỗi chảy máu, máu nhỏ giọt xuống y. Hắn lại còn chưởi mắng hai thầy trò tôn giả. Rahula giận căm gan tím ruột nhưng Xá Lợi Phất an ủi: Rahula, nếu là đệ tử Phật thì cần phải nhẫn nhục, trong tâm không chứa sân hận, phải đem từ bi thương xót chúng sanh! Này Rahula, nên điều phục tâm giận dữ, nắm chắc tâm nhẫn nhục, Trên thế gian không ai có thể sánh bằng người có sức nhẫn mạnh mẽ. Sa di Rahula nghe tôn giả Xá Lợi Phất khai thị, lẳng lặng đến bên ao nước soi mặt, rửa vết thuơng trên đầu rồi an nhiên tiếp tục đi khất thực với sư phụ. Trên đường về, Sa di Rahula mới nói với tôn giả Xá Lợi Phất: con người tại sao lại ác độc như thế? Phật dạy chúng ta nhẫn nhục nhưng những hạng người ác độc ấy có hiểu không? người ta có tôn trọng chúng ta không hay lại khinh thường chúng ta mà tôn trọng những kẻ ác ấy? Lúc đầu, con tưởng mình không chịu nỗi!
Tôn giả Xá Lợi Phất nghe xong rất hoan hỷ, vì thấy Rahula nghịch phá hôm xưa nay đã tiến bộ rõ rệt, bèn đem chuyện này kể với đức Phật, đức Phật cũng thật là hoan hỷ, ngài dạy Rahula thêm: người không biết nhẫn sẽ không tiếp thu được Phật Pháp, những ai giận dữ, oán người là trái với Pháp, xa chư Tăng… Hạnh nhẫn nhục mới là hạnh an ổn, mới có thể tiêu trừ tai nạn. Từ đó, Rahula ít nói, im lặng tu hành, không xuất hiện giữa đám đông, không tỏ ra nổi bật…. đúng là con người mật hạnh đệ nhất.
Ngày mai là Viá Thành Đạo 2553 ; thân kính chúc Anh Chị Em một mùa Thành Đạo an lạc và giải thoát.
Trân trọng,
Nhóm Áo Lam
19/1/10
Câu Chuyện Lửa Tàn (28)
Posted by Unknown on 14:23
Kính thưa quý anh chị,
cùng các em thân mến.
Sống cùng với thiên nhiên, một ngày quên hết bao âu lo nhọc nhằn tâm trí; nhìn ra trời cao biển rộng để mở lòng khoáng đạt bao la. Từ lúc loài người rời xa núi non, hang động, từ giã thác suối, rừng rú đi khai mở ruộng đồng tụ lập thành xã hội. Xã hội càng phát triển thì bản năng thiên phú trong con người càng giảm theo đà tiến hóa và những xu hướng chung. Do đó núi cao, rừng thẳm, sông sâu, biển rộng… vẫn mãi là những bí mật, vẫn còn là các cuộc thách thức những bước chân của tuổi thanh thiếu niên áo lam thám du, khám phá trong đời sống trại mạc.
Các anh chị thường phàn nàn rằng sinh hoạt dạo này thiếu sinh khí làm cho đoàn sinh chán nản đến chùa thưa thớt; các anh chị cũng bảo rằng đi trại mà nghe đến trò chơi lớn thì các em cũng ngại, ngại lại theo dấu đi đường; lại trình diện trạm hỏi nọ, hỏi kia …. Nói chung là cứ lập đi lập lại hoài một điệp khúc thì lấy gì mà không chán phải không!
Quý anh chị trẻ tuổi thường đề nghị đưa ra những sáng kiến đổi mới sinh hoạt trong Gia Đình Phật Tử và thường nhận được sự đồng tình của đại đa số một cách tích cực, nhưng đổi mới những gì và đổi mới như thế nào để khơi dậy, kêu gọi các bản năng thiên bẩm, năng động, nhạy bén trong mỗi chúng ta thức dậy để có thể sống hợp quần mà vẫn giữ được bản tính độc lập của mỗi cá thể không ỷ lại hay nương cậy vào người khác lúc chật vật, nguy nan. Chúng ta không thể bứng một gốc cây già đem trồng vào một chỗ khác mà gọi là đổi mới, hay trồng một cây mới vào hố cây cũ mà gọi là đổi mới…. Những cái được gọi là “mới” đó cũng sẽ “cũ” theo thời gian. Có khi chúng còn mau chán hơn lúc chưa đổi mới vì sự vụng về, thiếu chiều sâu và khó liên kết trong đời sống cộng đồng.
Chiều nay lúc vượt sông, tôi phát giác ra có nhiều em không biết bơi, chưa từng úp mặt quen dưới nước để thở nên đành phải để một số đi vòng; khi lội sình lầy các em nhún nhảy như đi trên cạn, vài chị sợ dơ gót, lấm quần nên cương quyết không băng qua. Cả một bản năng bơi lội trong các em bị ngủ quên; sống cùng thiên nhiên mà sợ sình lầy, bùn đất; sạch sẽ, vệ sinh quá đã làm cho ta sợ nhơ, sợ uế không dám bước lên. Gút ghế đơn quanh người để leo lên thời hở khóa, gặp dòng nước siết bám chắc dây thừng không nhả vì sợ bị cuốn trôi đi. Thế còn rắn, rết, bò cạp, muỗi mòng, nước độc… thì sao! chúng ta tổ chức trại trong rừng làm gì khi vẫn chưa sẵn sàng, cụ bị những vốn liếng căn bản là an toàn cho mỗi người. Đành rằng trong một đội, chúng thì có người này biết này, người kia biết nọ nhưng sự rủi ro chực chờ phút giây sơ hở để diễn ra.
Không biết bơi, lặn, lội thì làm sao học tiếp môn cấp cứu nạn nhân dưới nước; không biết tác hại của ngọn lửa làm sao học được cách cứu hỏa; không dám qua sông thì làm sao đưa nạn nhân qua bờ bên kia an toàn! Có nhiều điều anh chị em chúng ta phải ngồi bàn lại vì ta đã bỏ lửng và phí hoài những kho tàng vô tận mà thiên nhiên đã ban tặng và tiền nhân đã hướng dẫn chúng ta. Liên đoàn có thể chủ động huấn luyện thực tế không những chỉ các bộ môn này mà còn nhiều bộ môn khác nữa; cuối cùng Ban giám khảo cấp nào có thể cấp chuyên hiệu xác nhận cho mỗi bộ môn về hoạt động thanh niên! Nội những điểm này chúng ta khởi động theo chủ đề trại họp bạn hằng năm sẽ có biết bao nhiêu công việc trong một gia đình hay một Ban Hướng Dẫn. Mùa nước lũ vừa rồi quê tôi biết bao người chết đuối vì ở gần sông ngòi, thác suối mà lại không biết bơi; hoặc biết bơi mà không biết cứu người ra sao cho đúng.
Kỳ sau, có thể là hai năm nữa chúng ta sẽ quay lại chốn này với tất cả các hành trang cần thiết để băng rừng, leo núi, vượt thác, xuống đèo. Chúng ta sẽ liên lạc với nhau bằng khói khi đặt chân lên đất trại, ai cắm cờ Đoàn mình trên ngọn cây sao kia trước sẽ nắm quyền phân chia khu vực trại – Các góc canh sẽ liên lạc với nhau bằng đèn để tránh xao động rừng đêm. Tất cả các hoạt động trại ban ngày phải tuân theo một quy ước những màu cờ trên cao: Màu trắng bình yên; màu đen có giặc; màu đỏ bếp núc; SOS cấp cứu, cờ màu vàng là lệnh di chuyển. Trước khi thay đổi màu cờ là một tiếng tù và trầm dài để các chúng chú ý nhìn lên. Yêu cầu đội vào vai các bộ tộc H’mông hay Lạc Việt sẽ hóa trang toàn diện chứ không nên nửa sà rông dưới, nửa áo lam trên như chiều nay…
Xuyên suốt nội dung trò chơi lớn là câu chuyện về Phật Pháp, nếu nội dung không phải là chuyện Đạo thì quý anh chị phải trình bày để thuyết phục cho được Ban Quản Trại tinh thần Từ bi -Trí Tuệ - Dũng mãnh của đạo Phật thể hiện ở đâu trong câu chuyện đó để được sự đồng thuận. Vì khi ứng phó trong các tình huống, người Phật tử mới thể hiện được tinh thần Bi – Trí – Dũng đến đâu! Những câu chuyện không nêu bật được Đạo Tâm thì không phải là câu chuyện của Gia Đình Phật Tử nên làm.
Đêm nay, gió mùa Đông Bắc se lạnh chúng ta nên giữ bếp lửa cháy lâu, hai đầu nhọn của vầng trăng lưỡi liềm bên góc trời kia đang hướng về Đông hay Tây vậy! Nếu những điều căn bản về gió mùa, Trăng, sao, dòng nước… mà chúng ta chỉ biết sơ sơ hoặc không biết thì đời sống trại mạc thật chán, chính chúng ta còn chán thì trách sao các em không chán! Đêm nay chúng ta có thể đổi trao tâm sự xem ngày mai có thể băng ra thác suối kia, còn không thì cứ để trại sinh đi loanh quanh theo dấu đi đường, dịch mật thư mất nhiều thời gian cho đến khi tan hàng về lại. Cuộc chơi này hôm nay chúng ta có thể lòng vòng thất bại, nhưng nếu từ nền tảng này để đầu tư, cụ bị, sẵn sàng vươn tới. Cả hai phía, khả năng của ban tổ chức và những người tham dự đều phải ra công sức cao hơn, mới lạ hơn. Chắc chắn những cuộc trại tương lai chúng ta sẽ thành công.
Nguyên Hoàng
cùng các em thân mến.
Sống cùng với thiên nhiên, một ngày quên hết bao âu lo nhọc nhằn tâm trí; nhìn ra trời cao biển rộng để mở lòng khoáng đạt bao la. Từ lúc loài người rời xa núi non, hang động, từ giã thác suối, rừng rú đi khai mở ruộng đồng tụ lập thành xã hội. Xã hội càng phát triển thì bản năng thiên phú trong con người càng giảm theo đà tiến hóa và những xu hướng chung. Do đó núi cao, rừng thẳm, sông sâu, biển rộng… vẫn mãi là những bí mật, vẫn còn là các cuộc thách thức những bước chân của tuổi thanh thiếu niên áo lam thám du, khám phá trong đời sống trại mạc.
Các anh chị thường phàn nàn rằng sinh hoạt dạo này thiếu sinh khí làm cho đoàn sinh chán nản đến chùa thưa thớt; các anh chị cũng bảo rằng đi trại mà nghe đến trò chơi lớn thì các em cũng ngại, ngại lại theo dấu đi đường; lại trình diện trạm hỏi nọ, hỏi kia …. Nói chung là cứ lập đi lập lại hoài một điệp khúc thì lấy gì mà không chán phải không!
Quý anh chị trẻ tuổi thường đề nghị đưa ra những sáng kiến đổi mới sinh hoạt trong Gia Đình Phật Tử và thường nhận được sự đồng tình của đại đa số một cách tích cực, nhưng đổi mới những gì và đổi mới như thế nào để khơi dậy, kêu gọi các bản năng thiên bẩm, năng động, nhạy bén trong mỗi chúng ta thức dậy để có thể sống hợp quần mà vẫn giữ được bản tính độc lập của mỗi cá thể không ỷ lại hay nương cậy vào người khác lúc chật vật, nguy nan. Chúng ta không thể bứng một gốc cây già đem trồng vào một chỗ khác mà gọi là đổi mới, hay trồng một cây mới vào hố cây cũ mà gọi là đổi mới…. Những cái được gọi là “mới” đó cũng sẽ “cũ” theo thời gian. Có khi chúng còn mau chán hơn lúc chưa đổi mới vì sự vụng về, thiếu chiều sâu và khó liên kết trong đời sống cộng đồng.
Chiều nay lúc vượt sông, tôi phát giác ra có nhiều em không biết bơi, chưa từng úp mặt quen dưới nước để thở nên đành phải để một số đi vòng; khi lội sình lầy các em nhún nhảy như đi trên cạn, vài chị sợ dơ gót, lấm quần nên cương quyết không băng qua. Cả một bản năng bơi lội trong các em bị ngủ quên; sống cùng thiên nhiên mà sợ sình lầy, bùn đất; sạch sẽ, vệ sinh quá đã làm cho ta sợ nhơ, sợ uế không dám bước lên. Gút ghế đơn quanh người để leo lên thời hở khóa, gặp dòng nước siết bám chắc dây thừng không nhả vì sợ bị cuốn trôi đi. Thế còn rắn, rết, bò cạp, muỗi mòng, nước độc… thì sao! chúng ta tổ chức trại trong rừng làm gì khi vẫn chưa sẵn sàng, cụ bị những vốn liếng căn bản là an toàn cho mỗi người. Đành rằng trong một đội, chúng thì có người này biết này, người kia biết nọ nhưng sự rủi ro chực chờ phút giây sơ hở để diễn ra.
Không biết bơi, lặn, lội thì làm sao học tiếp môn cấp cứu nạn nhân dưới nước; không biết tác hại của ngọn lửa làm sao học được cách cứu hỏa; không dám qua sông thì làm sao đưa nạn nhân qua bờ bên kia an toàn! Có nhiều điều anh chị em chúng ta phải ngồi bàn lại vì ta đã bỏ lửng và phí hoài những kho tàng vô tận mà thiên nhiên đã ban tặng và tiền nhân đã hướng dẫn chúng ta. Liên đoàn có thể chủ động huấn luyện thực tế không những chỉ các bộ môn này mà còn nhiều bộ môn khác nữa; cuối cùng Ban giám khảo cấp nào có thể cấp chuyên hiệu xác nhận cho mỗi bộ môn về hoạt động thanh niên! Nội những điểm này chúng ta khởi động theo chủ đề trại họp bạn hằng năm sẽ có biết bao nhiêu công việc trong một gia đình hay một Ban Hướng Dẫn. Mùa nước lũ vừa rồi quê tôi biết bao người chết đuối vì ở gần sông ngòi, thác suối mà lại không biết bơi; hoặc biết bơi mà không biết cứu người ra sao cho đúng.
Kỳ sau, có thể là hai năm nữa chúng ta sẽ quay lại chốn này với tất cả các hành trang cần thiết để băng rừng, leo núi, vượt thác, xuống đèo. Chúng ta sẽ liên lạc với nhau bằng khói khi đặt chân lên đất trại, ai cắm cờ Đoàn mình trên ngọn cây sao kia trước sẽ nắm quyền phân chia khu vực trại – Các góc canh sẽ liên lạc với nhau bằng đèn để tránh xao động rừng đêm. Tất cả các hoạt động trại ban ngày phải tuân theo một quy ước những màu cờ trên cao: Màu trắng bình yên; màu đen có giặc; màu đỏ bếp núc; SOS cấp cứu, cờ màu vàng là lệnh di chuyển. Trước khi thay đổi màu cờ là một tiếng tù và trầm dài để các chúng chú ý nhìn lên. Yêu cầu đội vào vai các bộ tộc H’mông hay Lạc Việt sẽ hóa trang toàn diện chứ không nên nửa sà rông dưới, nửa áo lam trên như chiều nay…
Xuyên suốt nội dung trò chơi lớn là câu chuyện về Phật Pháp, nếu nội dung không phải là chuyện Đạo thì quý anh chị phải trình bày để thuyết phục cho được Ban Quản Trại tinh thần Từ bi -Trí Tuệ - Dũng mãnh của đạo Phật thể hiện ở đâu trong câu chuyện đó để được sự đồng thuận. Vì khi ứng phó trong các tình huống, người Phật tử mới thể hiện được tinh thần Bi – Trí – Dũng đến đâu! Những câu chuyện không nêu bật được Đạo Tâm thì không phải là câu chuyện của Gia Đình Phật Tử nên làm.
Đêm nay, gió mùa Đông Bắc se lạnh chúng ta nên giữ bếp lửa cháy lâu, hai đầu nhọn của vầng trăng lưỡi liềm bên góc trời kia đang hướng về Đông hay Tây vậy! Nếu những điều căn bản về gió mùa, Trăng, sao, dòng nước… mà chúng ta chỉ biết sơ sơ hoặc không biết thì đời sống trại mạc thật chán, chính chúng ta còn chán thì trách sao các em không chán! Đêm nay chúng ta có thể đổi trao tâm sự xem ngày mai có thể băng ra thác suối kia, còn không thì cứ để trại sinh đi loanh quanh theo dấu đi đường, dịch mật thư mất nhiều thời gian cho đến khi tan hàng về lại. Cuộc chơi này hôm nay chúng ta có thể lòng vòng thất bại, nhưng nếu từ nền tảng này để đầu tư, cụ bị, sẵn sàng vươn tới. Cả hai phía, khả năng của ban tổ chức và những người tham dự đều phải ra công sức cao hơn, mới lạ hơn. Chắc chắn những cuộc trại tương lai chúng ta sẽ thành công.
Nguyên Hoàng
18/1/10
ĐỜI SỐNG THÁNH GIẢ CỦA HUYNH TRƯỞNG GIA ĐÌNH PHẬT TỬ VIỆT NAM
Posted by Unknown on 21:41
Như mây trời nhẹ trôi giữa biển đời sinh diệt – trong dòng ảo hoá vô cùng. Bồ tát Huynh Trưởng Phật Tử vẫn an nhiên tự tại đi qua. Với tâm từ bi rộng lớn “Thượng cầu phật đạo, hạ hoá chúng sinh” bồ tát HT đã thênh thang vượt qua dòng sóng biếc
Đời sống của một vị thánh giả, là đời sống nhẹ nhàng thanh thoát. Với hạnh nguyện kỳ vĩ, bồ tát HT nguyện nhập thế độ tha “Ngũ trược ác thế thệ tiên nhập”, nơi nào còn có một chúng sinh đau khổ, mặc dù nơi ấy dẫy đầy gian khó hiểm nguy, như một Phú Lâu Na - một Quán Thế Âm … tăng thân bồ tát HT, với tấm lòng mẫn ái như người mẹ hiền, từ bi - vị tha – vô ngã, bát ngát không biên giới, mà vào nơi cùng khốn ác trược, thị hiện mọi phương tiện diệu thủ, nghìn mắt – nghìn tay, rộng mở thương yêu đón nhận mọi mảnh đời lăn lóc mà độ tận
Ngoài kia, dù biển đời có dậy sóng khổ đau, nhưng nội tâm của thánh giả HTPT vẫn tĩnh tại an bình. Cái tĩnh tại được suy nghiệm - chắc lọc từ vô vàn vọng thức. Cuộc mua bán nghiệp duyên thiện ác của hàng phàm phu với cái giá phải trả là lo âu và sợ hãi. Thượng sĩ bồ tát HT liễu ngộ thực tướng, nên đã biết dừng lại, không còn lăn quay theo vòng quán tính nhân duyên. Nhân dứt thì duyên không sinh, duyên không sinh thì quả không tồn tại. Nhân quả chỉ là bóng dáng của bào ảnh, biết dừng lại là bóng không theo
Bởi vì mù quáng ùa theo, buông thả cho thị dục cám dổ - điều khiển, để rồi con người trần tục gục đầu trước khổ đau. Cuộc đời đâu phải là trái đắng, mà chính chúng ta đa mang đau khổ vào đời. Chỉ vì một niệm vô minh khởi lên, mà nở đành ngủ quên trên thân phận bé mọn lấm lem tanh tưởi, để rồi ngồi ì than khóc cái thể vóc mục rửa giã tạm cuộc đời. Như một chú cún con mãi mê say sưa gậm nhấm khúc xương khô thừa mứa nhạt nhẽo vô vị, mà người chủ thương hại vứt cho khi thấy nó cứ mãi cúi đầu, ngoe ngoảy cái đuôi, biểu lộ sự trung thành – ngoan đạo một cách cuồng tín. HTPT chân chánh không thể buông mình như một khách lữ hành, cứ dong ruỗi kím tìm, đuổi bắt cái bóng nắng trên đườmg dài mệt nhoài một cách vô vọng
Tĩnh thức, đây là giờ phút trọng đại mà từ Vườn Nai đức Phật đã diễn bày tứ thánh đế. Chinh mỗi nhân giả phải tự mĩm cười khi thấy từ tay đức từ phụ nở đoá sen thơm. Phải nhanh chóng cởi bỏ lớp áo phàm phu để hảnh tiến bước vào đời sống thánh giả, thể nhập pháp giới, thị hiện độ sinh
HTPT thảnh thơi giữa cuộc trần ai ganh đua nhốn nháo. Danh lợi như mây ngàn, tiền tài là bèo bọt, sắc đẹp như đoá phù dung, một mai rồi cũng tàn phai cuốn trôi qua ghềnh sóng khổ. Trăm năm qua dòng sinh tử, sự sống cứ mãi âm thầm chuyển động qua từng sát na vô thường, khó có ai làm chủ được chính mình. Kẻ phàm phu thì cứ trược dài theo vòng quán tính duyên sinh mãi miết. Nhưng bực thánh giả thì biết dừng lại bên bờ sinh diệt, đi lên bằng nguyện lực, chứng ngộ lý duyên sinh, thảnh thơi nhẹ nhàng như cánh nhạn giữa trời không, để rồi đáp cánh bình yên không vương dấu tích
Người HTPT, là một chiến sĩ trên mặt trận tâm linh. Giữa đời thường, là một cuộc chiến dẫy đầy gian nan thử thách. HTPT dõng mãnh dùng tuệ kiếm, chiến thắng nội ma - ngoại chướng. Mong cầu tu học, thấu triệt vô thượng phật pháp, tìm ra một hướng đi trong sáng đích thực, không những để tự giải thoát vượt qua vũng xoáy áp bức nghiệt ngã, hướng đến thực hành chí nguyện đại thừa cao cả, gánh vát sứ mệnh lớn lao, sẵn sàng xả bỏ thân mạng vì sự tồn tại của chánh pháp, của tổ chức GĐPTVN và vì lợi ích thiết thực cho thế hệ mai sau
HTPT là một nghệ sĩ, biết rung cảm trong từng mỗi suy tư, sáng tạo nên những tác phẩm nghệ thuật, đáp ứng trọn vẹn nhưng khát khao từ nét đẹp tâm linh thanh thoát. Cái kỳ diệu của thiện sĩ tri thức HTPT, là với niềm tin vững chắc vào đời không một chút run lòng, mỗi bước đi qua là vươn tới mục đích tối thượng, phát khởi tâm nguyện bồ đề, lập hạnh bồ tát đạo, quyết định hình thành tài năng - đức độ bằng những hoạt động phật sự đích thực
Người HT là một kỹ sư tâm hồn, thành toàn tâm nguyện, xây dựng hoàn chỉnh những công trình cho tuổi trẻ VN. Ngừi HT phải là một tấm gương sáng, bởi vì các em là mặt sau của chính mình, để từ đó cho ra lò những sản phẩm giáo dục có chất lựng, làm nãy sinh rổ nở những đoá Ưu đàm thắm đượm nụ cười nở hoa từ mỗi đoàn sinh PT mà minh đang phụ trách, góp phần phụng sự có lợi ích thiết thực cho dân tộc, chuyển hoá xã hội, vững chãi ngôi nhà lam sáng toả
Từ dòng Ni Liên Thuyền, ánh sao mai loé lên bừng sáng, đức Phật đã dõng mãnh dập tắt phiền não, xua tan vô minh, khai thị tuệ giác sau bốn mươi chín ngày đêm ròng rã hành thiền. HTPT là một thiền sinh đang hành thiền bên dòng sinh diệt, dưới ánh nắng nghiệt ngã của thời gian. Bồ tát HTPT thực chứng vô thường, chỉ còn tồn tại cái thể tánh thường hằng, nhập thế vào đời độ tận chúng sinh. Cái trọng trách mà đời sống thánh giả luôn luôn ấp ủ, là đem đạo vào đời - phật hoá xã hội - tịnh độ nhân gian
“Giữa biển trần dậy sóng
“Cởi bè lau ra khơi
“Ai hay lam toả ngát
“Sen nở giữa lòng đời !”
Nguyên Hoàng PHAN VĂN HUY TÂM
Đời sống của một vị thánh giả, là đời sống nhẹ nhàng thanh thoát. Với hạnh nguyện kỳ vĩ, bồ tát HT nguyện nhập thế độ tha “Ngũ trược ác thế thệ tiên nhập”, nơi nào còn có một chúng sinh đau khổ, mặc dù nơi ấy dẫy đầy gian khó hiểm nguy, như một Phú Lâu Na - một Quán Thế Âm … tăng thân bồ tát HT, với tấm lòng mẫn ái như người mẹ hiền, từ bi - vị tha – vô ngã, bát ngát không biên giới, mà vào nơi cùng khốn ác trược, thị hiện mọi phương tiện diệu thủ, nghìn mắt – nghìn tay, rộng mở thương yêu đón nhận mọi mảnh đời lăn lóc mà độ tận
Ngoài kia, dù biển đời có dậy sóng khổ đau, nhưng nội tâm của thánh giả HTPT vẫn tĩnh tại an bình. Cái tĩnh tại được suy nghiệm - chắc lọc từ vô vàn vọng thức. Cuộc mua bán nghiệp duyên thiện ác của hàng phàm phu với cái giá phải trả là lo âu và sợ hãi. Thượng sĩ bồ tát HT liễu ngộ thực tướng, nên đã biết dừng lại, không còn lăn quay theo vòng quán tính nhân duyên. Nhân dứt thì duyên không sinh, duyên không sinh thì quả không tồn tại. Nhân quả chỉ là bóng dáng của bào ảnh, biết dừng lại là bóng không theo
Bởi vì mù quáng ùa theo, buông thả cho thị dục cám dổ - điều khiển, để rồi con người trần tục gục đầu trước khổ đau. Cuộc đời đâu phải là trái đắng, mà chính chúng ta đa mang đau khổ vào đời. Chỉ vì một niệm vô minh khởi lên, mà nở đành ngủ quên trên thân phận bé mọn lấm lem tanh tưởi, để rồi ngồi ì than khóc cái thể vóc mục rửa giã tạm cuộc đời. Như một chú cún con mãi mê say sưa gậm nhấm khúc xương khô thừa mứa nhạt nhẽo vô vị, mà người chủ thương hại vứt cho khi thấy nó cứ mãi cúi đầu, ngoe ngoảy cái đuôi, biểu lộ sự trung thành – ngoan đạo một cách cuồng tín. HTPT chân chánh không thể buông mình như một khách lữ hành, cứ dong ruỗi kím tìm, đuổi bắt cái bóng nắng trên đườmg dài mệt nhoài một cách vô vọng
Tĩnh thức, đây là giờ phút trọng đại mà từ Vườn Nai đức Phật đã diễn bày tứ thánh đế. Chinh mỗi nhân giả phải tự mĩm cười khi thấy từ tay đức từ phụ nở đoá sen thơm. Phải nhanh chóng cởi bỏ lớp áo phàm phu để hảnh tiến bước vào đời sống thánh giả, thể nhập pháp giới, thị hiện độ sinh
HTPT thảnh thơi giữa cuộc trần ai ganh đua nhốn nháo. Danh lợi như mây ngàn, tiền tài là bèo bọt, sắc đẹp như đoá phù dung, một mai rồi cũng tàn phai cuốn trôi qua ghềnh sóng khổ. Trăm năm qua dòng sinh tử, sự sống cứ mãi âm thầm chuyển động qua từng sát na vô thường, khó có ai làm chủ được chính mình. Kẻ phàm phu thì cứ trược dài theo vòng quán tính duyên sinh mãi miết. Nhưng bực thánh giả thì biết dừng lại bên bờ sinh diệt, đi lên bằng nguyện lực, chứng ngộ lý duyên sinh, thảnh thơi nhẹ nhàng như cánh nhạn giữa trời không, để rồi đáp cánh bình yên không vương dấu tích
Người HTPT, là một chiến sĩ trên mặt trận tâm linh. Giữa đời thường, là một cuộc chiến dẫy đầy gian nan thử thách. HTPT dõng mãnh dùng tuệ kiếm, chiến thắng nội ma - ngoại chướng. Mong cầu tu học, thấu triệt vô thượng phật pháp, tìm ra một hướng đi trong sáng đích thực, không những để tự giải thoát vượt qua vũng xoáy áp bức nghiệt ngã, hướng đến thực hành chí nguyện đại thừa cao cả, gánh vát sứ mệnh lớn lao, sẵn sàng xả bỏ thân mạng vì sự tồn tại của chánh pháp, của tổ chức GĐPTVN và vì lợi ích thiết thực cho thế hệ mai sau
HTPT là một nghệ sĩ, biết rung cảm trong từng mỗi suy tư, sáng tạo nên những tác phẩm nghệ thuật, đáp ứng trọn vẹn nhưng khát khao từ nét đẹp tâm linh thanh thoát. Cái kỳ diệu của thiện sĩ tri thức HTPT, là với niềm tin vững chắc vào đời không một chút run lòng, mỗi bước đi qua là vươn tới mục đích tối thượng, phát khởi tâm nguyện bồ đề, lập hạnh bồ tát đạo, quyết định hình thành tài năng - đức độ bằng những hoạt động phật sự đích thực
Người HT là một kỹ sư tâm hồn, thành toàn tâm nguyện, xây dựng hoàn chỉnh những công trình cho tuổi trẻ VN. Ngừi HT phải là một tấm gương sáng, bởi vì các em là mặt sau của chính mình, để từ đó cho ra lò những sản phẩm giáo dục có chất lựng, làm nãy sinh rổ nở những đoá Ưu đàm thắm đượm nụ cười nở hoa từ mỗi đoàn sinh PT mà minh đang phụ trách, góp phần phụng sự có lợi ích thiết thực cho dân tộc, chuyển hoá xã hội, vững chãi ngôi nhà lam sáng toả
Từ dòng Ni Liên Thuyền, ánh sao mai loé lên bừng sáng, đức Phật đã dõng mãnh dập tắt phiền não, xua tan vô minh, khai thị tuệ giác sau bốn mươi chín ngày đêm ròng rã hành thiền. HTPT là một thiền sinh đang hành thiền bên dòng sinh diệt, dưới ánh nắng nghiệt ngã của thời gian. Bồ tát HTPT thực chứng vô thường, chỉ còn tồn tại cái thể tánh thường hằng, nhập thế vào đời độ tận chúng sinh. Cái trọng trách mà đời sống thánh giả luôn luôn ấp ủ, là đem đạo vào đời - phật hoá xã hội - tịnh độ nhân gian
“Giữa biển trần dậy sóng
“Cởi bè lau ra khơi
“Ai hay lam toả ngát
“Sen nở giữa lòng đời !”
Nguyên Hoàng PHAN VĂN HUY TÂM
Lá Thư Đầu Tuần (51)
Posted by Unknown on 14:45
Anh chị em Lam viên thân mến,
Mới đó mà đã bước qua 2010 nửa tháng rồi, năm nay là năm kết thúc “Thập niên quốc tế xiển dương việc tu tập bất bạo động và hòa bình để làm lợi lạc cho tất cả trẻ em trên thế giới” (International decade For a culture of peace and Non Violence For the Children in the World). Không biết đến cuối năm nay đại hội đồng Liên hiệp quốc có tổng kết lại thập niên tu tập hòa bình hay không? Muốn theo dõi sự thực thi việc xiển dương tu tập này, phải nắm được tình hình tôn giáo trên toàn thế giới, chứ đặt nó vào phạm trù chính trị, hóa ra hoàn toàn mâu thuẫn và chỉ là “mị dân” mà thôi.
Có lẽ Liên hiệp quốc không thể nào theo dõi được tình hình tôn giáo của các nước trên toàn thế giới một cách trọn vẹn đâu. Các nước thành viên Liên hiệp quốc có thực thi bản tuyên cáo năm 2000 không? Thì cũng chỉ có “chư thiên” biết mà thôi! Nếu các quốc gia thành viên LHQ mà không thực thi thì còn ai thực thi nữa?
Năm 1998 đại hội đồng Liên hiệp quốc đã kí quyết nghị A/RES/53/25 lấy năm 2000 làm năm quốc tế sự tu tập hòa bình (International year for the culture of peace) và lấy thập niên 2001-2010 là “Thập niên quốc tế xiển dương việc tu tập bất báo động và hòa bình để làm lợi lạc cho tất cả trẻ em, trên thế giới”.
Năm 2000 UNESCO (tổ chức giáo dục khoa học và văn hóa của Liên hiệp quốc) đã ra tuyên cáo gồm 6 điểm nội dung tóm tắt như sau:
1. Xin tôn trọng sự sống dưới mọi hình thức
2. Xin khước từ bạo động
3. Xin mở rộng lòng từ ái
4. Xin lắng nghe để hiểu
5. Xin bảo hộ Trái đất
6. Xin làm sống dậy tình liên đới.
Chiêm nghiệm cho kỷ đây chính là thu gọn nội dung 5 giới của Phật giáo dưới một hình thức khác.
Mà đúng thế, Đạo Phật là đạo hòa bình, muốn bảo vệ hòa bình phải thực hành năm giới, không còn cách nào khác và cũng không riêng cho một tôn giáo nào.
Nhưng nhìn hoạt động tôn giáo qua “lớp kính Nhà nước” của một số quốc gia thì xanh hóa đỏ, tím hóa vàng. Hiện nay, vấn đề tôn giáo ở Trung Quốc ra sao? Ở Hàn Quốc ra sao... Ai có nghe những vị chân tu của các nước này thuật lại mới rõ, chứ nhìn qua màn ảnh truyền hình, đọc qua vài bài báo, không thể nào nhận định được. Dù có đến tham quan tận nơi, tận gốc thì những hướng dẫn viên, thuyết trình viên đều là của “Nhà nước” không phải của “Nhà chùa”.
Riêng về Việt Nam, từ năm 2000 trở lại, việc xây dựng chùa chiền ở một vài nơi không còn quá khó khăn, không còn có hạn chế tuyệt đối như hai thập niên sau 1975. Nhưng có phải chùa tháp mọc lên thật nhiều, ở vài đô thị xây dựng thật lớn lao là tự do tín ngưỡng đó không?
Tình trạng các bậc cao tăng chuyên tu hiện nay ra sao? Sinh hoạt Gia Đình Phật Tử Việt Nam truyền thống có gốc rễ hơn 60 năm nay, giờ ra sao? Có được pháp lý công nhận không? Hay chỉ những đơn vị lẻ tẻ thành lập sau 1975 (thuộc phân ban của Giáo hội Phật giáo VN) mới gọi là có pháp lý, còn các đơn vị 50, 60 tuổi rồi, có giấy khai sinh từ xưa rồi, bây giờ phải “khai sinh lại” (đăng ký lại) có nghĩa là “đã chết”, mặc dù còn sờ sờ ra đó!
Trong biên bản phiên họp thứ 54 ngày 15/12/99 ở mục 174 Hội đồng LHQ đã chính thức thừa nhận ngày Đại lễ Phật Đản, còn gọi là ngày Tam hợp (hợp lại 3 ngày lễ trọng đại: Sơ sinh, xuất gia và thành đạo) là ngày lễ hội văn hóa, tôn giáo thế giới của LHQ.
Từ đó ngày Tam hợp (tức Đại lễ Phật Đản) được tổ chức cho toàn thế giới. Năm 2000 tổ chức tại trụ sở LHQ ở NewYork, 2005 tổ chức tại Thái lan, 2008 tổ chức tại Việt Nam.
Ở Việt nam thì chúng ta đã thấy rồi, rất quy mô hoành tráng, ban tổ chức lễ hội tương đối hùng hậu, nhưng thẩm quyền của ban tổ chức thì thế nào? Quan khách tham dự có theo dự kiến của ban tổ chức không? Ai là người được tham dự? Do ai mời?
Trong Đại lễ này cũng có tăng đoàn Làng Mai (kể cả một số tu sĩ nước ngoài) do thiền sư Nhất Hạnh hướng dẫn. Trong chương trình có sắp xếp một số buổi pháp thoại của Thiền sư tại một vài nơi (có lẽ để tô son cho Đại lễ).
Nhưng sau đó thì sao? Tăng thân ở Tu viện Bát nhã gần 400 vị bây giờ ra sao? Có được an ổn tu tập không? Hay là “tan tát lìa đàn” mỗi người một ngã, xin cư trú một chùa nào cũng không được, đành phải làm tăng lữ lang thang.
Như vậy, đối với điều 12 Công ước Quốc tế về quyền cư trú của người dân thì sao đây? Việt nam là nước đã kí vào công ước này. Cơ quan nào theo dõi việc thực thi?
Còn trên bình diện Quốc tế, năm 2009 đã 2 lần Hội nghị thế giới bàn về việc chận đứng ô nhiểm môi trường, bảo vệ Trái đất đều thất bại. Nói thì nhân đạo lắm nhưng đụng đến một chút quyền lợi kinh tế thì “rút tay ra” để “ai chết mặc ai” mà cũng không thấy được trong số người chết ấy lại có mình, có dân tộc mình.
Thưa anh chị em, phân tích dài dòng một chút để chúng ta thấy được rằng: đừng trông chờ ở đâu nữa cả !
Tư tưởng hòa bình phải được nuôi lớn trong tâm hồn tuổi trẻ từ bây giờ thì ngày mai mới có một thế giới hòa bình.
Vậy thì hòa bình đang nằm trong tay anh chị em mà thôi vì anh chị em đang nhận lãnh sứ mệnh giáo dục Gia Đình Phật Tử hay nói rộng hơn là giáo dục tuổi trẻ Phật giáo, tuổi trẻ Việt Nam.
Thân ái chào các anh chị em!
BBT
http://www.gdptthegioi.org
Mới đó mà đã bước qua 2010 nửa tháng rồi, năm nay là năm kết thúc “Thập niên quốc tế xiển dương việc tu tập bất bạo động và hòa bình để làm lợi lạc cho tất cả trẻ em trên thế giới” (International decade For a culture of peace and Non Violence For the Children in the World). Không biết đến cuối năm nay đại hội đồng Liên hiệp quốc có tổng kết lại thập niên tu tập hòa bình hay không? Muốn theo dõi sự thực thi việc xiển dương tu tập này, phải nắm được tình hình tôn giáo trên toàn thế giới, chứ đặt nó vào phạm trù chính trị, hóa ra hoàn toàn mâu thuẫn và chỉ là “mị dân” mà thôi.
Có lẽ Liên hiệp quốc không thể nào theo dõi được tình hình tôn giáo của các nước trên toàn thế giới một cách trọn vẹn đâu. Các nước thành viên Liên hiệp quốc có thực thi bản tuyên cáo năm 2000 không? Thì cũng chỉ có “chư thiên” biết mà thôi! Nếu các quốc gia thành viên LHQ mà không thực thi thì còn ai thực thi nữa?
Năm 1998 đại hội đồng Liên hiệp quốc đã kí quyết nghị A/RES/53/25 lấy năm 2000 làm năm quốc tế sự tu tập hòa bình (International year for the culture of peace) và lấy thập niên 2001-2010 là “Thập niên quốc tế xiển dương việc tu tập bất báo động và hòa bình để làm lợi lạc cho tất cả trẻ em, trên thế giới”.
Năm 2000 UNESCO (tổ chức giáo dục khoa học và văn hóa của Liên hiệp quốc) đã ra tuyên cáo gồm 6 điểm nội dung tóm tắt như sau:
1. Xin tôn trọng sự sống dưới mọi hình thức
2. Xin khước từ bạo động
3. Xin mở rộng lòng từ ái
4. Xin lắng nghe để hiểu
5. Xin bảo hộ Trái đất
6. Xin làm sống dậy tình liên đới.
Chiêm nghiệm cho kỷ đây chính là thu gọn nội dung 5 giới của Phật giáo dưới một hình thức khác.
Mà đúng thế, Đạo Phật là đạo hòa bình, muốn bảo vệ hòa bình phải thực hành năm giới, không còn cách nào khác và cũng không riêng cho một tôn giáo nào.
Nhưng nhìn hoạt động tôn giáo qua “lớp kính Nhà nước” của một số quốc gia thì xanh hóa đỏ, tím hóa vàng. Hiện nay, vấn đề tôn giáo ở Trung Quốc ra sao? Ở Hàn Quốc ra sao... Ai có nghe những vị chân tu của các nước này thuật lại mới rõ, chứ nhìn qua màn ảnh truyền hình, đọc qua vài bài báo, không thể nào nhận định được. Dù có đến tham quan tận nơi, tận gốc thì những hướng dẫn viên, thuyết trình viên đều là của “Nhà nước” không phải của “Nhà chùa”.
Riêng về Việt Nam, từ năm 2000 trở lại, việc xây dựng chùa chiền ở một vài nơi không còn quá khó khăn, không còn có hạn chế tuyệt đối như hai thập niên sau 1975. Nhưng có phải chùa tháp mọc lên thật nhiều, ở vài đô thị xây dựng thật lớn lao là tự do tín ngưỡng đó không?
Tình trạng các bậc cao tăng chuyên tu hiện nay ra sao? Sinh hoạt Gia Đình Phật Tử Việt Nam truyền thống có gốc rễ hơn 60 năm nay, giờ ra sao? Có được pháp lý công nhận không? Hay chỉ những đơn vị lẻ tẻ thành lập sau 1975 (thuộc phân ban của Giáo hội Phật giáo VN) mới gọi là có pháp lý, còn các đơn vị 50, 60 tuổi rồi, có giấy khai sinh từ xưa rồi, bây giờ phải “khai sinh lại” (đăng ký lại) có nghĩa là “đã chết”, mặc dù còn sờ sờ ra đó!
Trong biên bản phiên họp thứ 54 ngày 15/12/99 ở mục 174 Hội đồng LHQ đã chính thức thừa nhận ngày Đại lễ Phật Đản, còn gọi là ngày Tam hợp (hợp lại 3 ngày lễ trọng đại: Sơ sinh, xuất gia và thành đạo) là ngày lễ hội văn hóa, tôn giáo thế giới của LHQ.
Từ đó ngày Tam hợp (tức Đại lễ Phật Đản) được tổ chức cho toàn thế giới. Năm 2000 tổ chức tại trụ sở LHQ ở NewYork, 2005 tổ chức tại Thái lan, 2008 tổ chức tại Việt Nam.
Ở Việt nam thì chúng ta đã thấy rồi, rất quy mô hoành tráng, ban tổ chức lễ hội tương đối hùng hậu, nhưng thẩm quyền của ban tổ chức thì thế nào? Quan khách tham dự có theo dự kiến của ban tổ chức không? Ai là người được tham dự? Do ai mời?
Trong Đại lễ này cũng có tăng đoàn Làng Mai (kể cả một số tu sĩ nước ngoài) do thiền sư Nhất Hạnh hướng dẫn. Trong chương trình có sắp xếp một số buổi pháp thoại của Thiền sư tại một vài nơi (có lẽ để tô son cho Đại lễ).
Nhưng sau đó thì sao? Tăng thân ở Tu viện Bát nhã gần 400 vị bây giờ ra sao? Có được an ổn tu tập không? Hay là “tan tát lìa đàn” mỗi người một ngã, xin cư trú một chùa nào cũng không được, đành phải làm tăng lữ lang thang.
Như vậy, đối với điều 12 Công ước Quốc tế về quyền cư trú của người dân thì sao đây? Việt nam là nước đã kí vào công ước này. Cơ quan nào theo dõi việc thực thi?
Còn trên bình diện Quốc tế, năm 2009 đã 2 lần Hội nghị thế giới bàn về việc chận đứng ô nhiểm môi trường, bảo vệ Trái đất đều thất bại. Nói thì nhân đạo lắm nhưng đụng đến một chút quyền lợi kinh tế thì “rút tay ra” để “ai chết mặc ai” mà cũng không thấy được trong số người chết ấy lại có mình, có dân tộc mình.
Thưa anh chị em, phân tích dài dòng một chút để chúng ta thấy được rằng: đừng trông chờ ở đâu nữa cả !
Tư tưởng hòa bình phải được nuôi lớn trong tâm hồn tuổi trẻ từ bây giờ thì ngày mai mới có một thế giới hòa bình.
Vậy thì hòa bình đang nằm trong tay anh chị em mà thôi vì anh chị em đang nhận lãnh sứ mệnh giáo dục Gia Đình Phật Tử hay nói rộng hơn là giáo dục tuổi trẻ Phật giáo, tuổi trẻ Việt Nam.
Thân ái chào các anh chị em!
BBT
http://www.gdptthegioi.org
17/1/10
Câu Chuyện Dưới Cờ
Posted by Unknown on 14:36
NHÂN HẠNH THÀNH PHẬT
Anh chị em Lam viên thân mến!
Mười phương ba đời chư Phật đều từ quả vị Bồ Tát Nhất Sanh bổ xứ mà xuất sanh. Chư vị Bồ Tát nhất sanh đều khởi Đại Từ Bi tâm mà thành tựu. Để thể hiện tâm Đại Từ Bi và nuôi dưỡng thánh thai Bồ Tát không gì bằng hạnh Bố Thí.
Bố Thí dẫn sanh trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ đến bờ giác thuật ngữ nhà Phật gọi là Ba La Mật. Việc tu hành không thể một sớm một chiều là có kết quả ngay nhưng với sự tinh cần không mệt mỏi thành công nắm chắc trong tầm tay. Để minh họa chư luận cứ trên trong kinh Bản Sự có câu chuyện tiền thân của Phật như sau:
Trong quá khứ lâu xa, tiền thân của đức Bổn sư là một thầy thuốc giỏi. Chúng sanh khắp nơi kéo đến xin chữa trị đông đến nổi không tính đếm được. Vì tâm Đại Từ Bi ngài chữa trị cho dân chúng không mệt mỏi, không quản ngày đêm nên kiệt sức mà chết. Ngài tái sinh làm Thái Tử ở cỏi Diêm Phù Đề. Mới sanh ra đã biết nói và kêu gọi mọi người chung sức chung lòng chăm lo việc bố thí. Trong cung Vua ai nghe được tin nầy đều hoảng sợ. Thấy thế Thái Tử trình cùng Thái Hậu rằng “Mẹ và mọi người đừng sợ, các đời trước con luôn hành hạnh Bố Thí như vậy.” Nghe như vậy từ chỗ sợ mọi người đều hân hoan vui vẻ giúp Thái tử sớm thành hạnh nguyện. Nhưng tài sản thì có hạng, mà người cần bố thí thì nhiều, không thể thỏa mãn được nên lòng vẫn u sầu. Có người mách với Thái Tử rằng Vua Rồng Đông hải trên búi tóc có viên Như Ý bảo châu có thể thỏa mãn nguyện ước của Thái Tử. Thế là Thái Tử xin phụ vương và mẫu hậu lên đường. Dù đã hết lòng can ngăn vì lộ trình quá ư nguy hiểm, nhưng rồi phụ vương và mẫu hậu cũng phải bằng lòng sau khi chọn một nhà hàng hải tiếng tăm và hơn một trăm thủy thủ đoàn kinh nghiệm. Sau ba tháng hải hành với sự chỉ điểm của nhà hàng hải đoàn thu được rất nhiều châu báu nhưng nhà Hàng Hải lâm bệnh và qua đời. Thái Tử cho tàu và thủy thủ đoàn trở về còn mình theo lời chỉ dẫn của nhà Hàng Hải ghi chép cẩn thận xuống một chiếc thuyền con theo lộ trình tiến tới. Đến cổng thành thứ nhất, tường cao ao sâu, toàn là rắn cực độc. Thái tử liền nhập từ tâm tam muội, dung pháp thủy thượng phiêu đi trên nước mà lướt qua đầu rắn một cách bình an. Bảy ngày sau qua thành thứ hai. Nơi đây có hai con rồng luôn phun nọc độc che khuất mọi lối đi. Thái tử vẫn dùng từ tâm tam muội và triển khai đạo nhãn thanh tịnh tiến bước. Hai rồng độc nghĩ người nầy chắc là quý khách của Đại Hải nên cung kính dẫn đường không hề làm khó dễ.
Thấy Thái Tử từ xa, Long Vương và Long Hậu bậc khóc vì có thần thông biết chắc đây là con mình, nên hỏi: Trong một tiền kiếp Thái Tử là con của chúng ta. Không hiểu sau đó lại thác sanh vào chốn nào? Thái tử bạch:
- Con sanh vào cỏi Diêm Phù Đề làm Thái Tử của một đại vương. Con vẫn giữ hạnh cứu độ chúng sanh nên mới xuống đây để xin ngài viên Như Ý Bảo Châu. Sau khi thảo luận hai ngài nói chúng sanh cỏi ấy bạc ác con làm sao giáo hóa được. Thái tử bảo với giáo pháp của Phật chàng có thể làm được việc nầy. Long Vương hứa khả với lời nhắn phải hoàn trả khi xong việc. Thái tử vâng thuận ở lại một hôm, hôm sau lên đường về quê nhà rất nhanh và an toàn nhờ thần lực của Long Vương.
Thấy Thái Tử trở về an toàn Vua và Mẫu Hậu rất vui. Hai vị nhìn viên bảo châu có chút xíu chưa tin vào thần lực của nó. Thái tử xin nhà vua chỉ thị quốc dân vệ sinh đường sá thôn ấp trì trai giữ giới, cầu xin bố thí điều chi khẩn bạch. Thái Tử sẽ cầu Như Ý bảo Châu làm cho mãn nguyện. Thái Tử dùng một cây gậy lớn cẩn viên Như Ý bảo Châu lên đầu gậy dựng gậy lên cao cầu xin khấn nguyện “Con nay vì lợi ích an lạc và hạnh phúc cho chúng sanh, xin như ý bảo châu hóa tác vật dụng như chúng sanh mong cầu, thảy cả đều đầy đủ”. Trên trời mây báu kéo về che kín quốc độ rồi nổi mưa báu tất cả chúng sanh thọ dụng không thiếu.
Niềm Tin và Ý lực trong sáng cộng với sự tinh tấn không mệt mỏi, hành thâm thiện hạnh, con đường tu dù có gian nan vẫn có thể thành toàn trong mai một.
Năm 2010 đã đến kính chúc anh chị em thân tâm nhẹ nhàng, an lạc trong từng hơi thở, an lạc trên từng bước chân, coi nhau như tăng thân, hành hoạt như một dòng chảy về nhà cha là chỗ vô sanh. Thân kính cùng tất cả anh chị em./.
BBT
http://www.gdptthegioi.org
Anh chị em Lam viên thân mến!
Mười phương ba đời chư Phật đều từ quả vị Bồ Tát Nhất Sanh bổ xứ mà xuất sanh. Chư vị Bồ Tát nhất sanh đều khởi Đại Từ Bi tâm mà thành tựu. Để thể hiện tâm Đại Từ Bi và nuôi dưỡng thánh thai Bồ Tát không gì bằng hạnh Bố Thí.
Bố Thí dẫn sanh trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ đến bờ giác thuật ngữ nhà Phật gọi là Ba La Mật. Việc tu hành không thể một sớm một chiều là có kết quả ngay nhưng với sự tinh cần không mệt mỏi thành công nắm chắc trong tầm tay. Để minh họa chư luận cứ trên trong kinh Bản Sự có câu chuyện tiền thân của Phật như sau:
Trong quá khứ lâu xa, tiền thân của đức Bổn sư là một thầy thuốc giỏi. Chúng sanh khắp nơi kéo đến xin chữa trị đông đến nổi không tính đếm được. Vì tâm Đại Từ Bi ngài chữa trị cho dân chúng không mệt mỏi, không quản ngày đêm nên kiệt sức mà chết. Ngài tái sinh làm Thái Tử ở cỏi Diêm Phù Đề. Mới sanh ra đã biết nói và kêu gọi mọi người chung sức chung lòng chăm lo việc bố thí. Trong cung Vua ai nghe được tin nầy đều hoảng sợ. Thấy thế Thái Tử trình cùng Thái Hậu rằng “Mẹ và mọi người đừng sợ, các đời trước con luôn hành hạnh Bố Thí như vậy.” Nghe như vậy từ chỗ sợ mọi người đều hân hoan vui vẻ giúp Thái tử sớm thành hạnh nguyện. Nhưng tài sản thì có hạng, mà người cần bố thí thì nhiều, không thể thỏa mãn được nên lòng vẫn u sầu. Có người mách với Thái Tử rằng Vua Rồng Đông hải trên búi tóc có viên Như Ý bảo châu có thể thỏa mãn nguyện ước của Thái Tử. Thế là Thái Tử xin phụ vương và mẫu hậu lên đường. Dù đã hết lòng can ngăn vì lộ trình quá ư nguy hiểm, nhưng rồi phụ vương và mẫu hậu cũng phải bằng lòng sau khi chọn một nhà hàng hải tiếng tăm và hơn một trăm thủy thủ đoàn kinh nghiệm. Sau ba tháng hải hành với sự chỉ điểm của nhà hàng hải đoàn thu được rất nhiều châu báu nhưng nhà Hàng Hải lâm bệnh và qua đời. Thái Tử cho tàu và thủy thủ đoàn trở về còn mình theo lời chỉ dẫn của nhà Hàng Hải ghi chép cẩn thận xuống một chiếc thuyền con theo lộ trình tiến tới. Đến cổng thành thứ nhất, tường cao ao sâu, toàn là rắn cực độc. Thái tử liền nhập từ tâm tam muội, dung pháp thủy thượng phiêu đi trên nước mà lướt qua đầu rắn một cách bình an. Bảy ngày sau qua thành thứ hai. Nơi đây có hai con rồng luôn phun nọc độc che khuất mọi lối đi. Thái tử vẫn dùng từ tâm tam muội và triển khai đạo nhãn thanh tịnh tiến bước. Hai rồng độc nghĩ người nầy chắc là quý khách của Đại Hải nên cung kính dẫn đường không hề làm khó dễ.
Thấy Thái Tử từ xa, Long Vương và Long Hậu bậc khóc vì có thần thông biết chắc đây là con mình, nên hỏi: Trong một tiền kiếp Thái Tử là con của chúng ta. Không hiểu sau đó lại thác sanh vào chốn nào? Thái tử bạch:
- Con sanh vào cỏi Diêm Phù Đề làm Thái Tử của một đại vương. Con vẫn giữ hạnh cứu độ chúng sanh nên mới xuống đây để xin ngài viên Như Ý Bảo Châu. Sau khi thảo luận hai ngài nói chúng sanh cỏi ấy bạc ác con làm sao giáo hóa được. Thái tử bảo với giáo pháp của Phật chàng có thể làm được việc nầy. Long Vương hứa khả với lời nhắn phải hoàn trả khi xong việc. Thái tử vâng thuận ở lại một hôm, hôm sau lên đường về quê nhà rất nhanh và an toàn nhờ thần lực của Long Vương.
Thấy Thái Tử trở về an toàn Vua và Mẫu Hậu rất vui. Hai vị nhìn viên bảo châu có chút xíu chưa tin vào thần lực của nó. Thái tử xin nhà vua chỉ thị quốc dân vệ sinh đường sá thôn ấp trì trai giữ giới, cầu xin bố thí điều chi khẩn bạch. Thái Tử sẽ cầu Như Ý bảo Châu làm cho mãn nguyện. Thái Tử dùng một cây gậy lớn cẩn viên Như Ý bảo Châu lên đầu gậy dựng gậy lên cao cầu xin khấn nguyện “Con nay vì lợi ích an lạc và hạnh phúc cho chúng sanh, xin như ý bảo châu hóa tác vật dụng như chúng sanh mong cầu, thảy cả đều đầy đủ”. Trên trời mây báu kéo về che kín quốc độ rồi nổi mưa báu tất cả chúng sanh thọ dụng không thiếu.
Niềm Tin và Ý lực trong sáng cộng với sự tinh tấn không mệt mỏi, hành thâm thiện hạnh, con đường tu dù có gian nan vẫn có thể thành toàn trong mai một.
Năm 2010 đã đến kính chúc anh chị em thân tâm nhẹ nhàng, an lạc trong từng hơi thở, an lạc trên từng bước chân, coi nhau như tăng thân, hành hoạt như một dòng chảy về nhà cha là chỗ vô sanh. Thân kính cùng tất cả anh chị em./.
BBT
http://www.gdptthegioi.org
Giới Thiệu Blog Tình Lam
Nơi đây giao lưu kết nối anh chị em áo lam khắp mọi nơi.
Nơi cảm nhận những cảm xúc vui buồn của dòng máu Lam.
Nơi mang đến những nét đẹp của tình lam, cùng đồng hành sát cánh với anh chị em áo lam Quốc Nội & Hải Ngoại.
Tình Lam mong càng ngày phong phú hơn với các bài viết sưu khảo từ các nơi.
Xin hãy cùng chung tay chia sẻ với Tình Lam cho vòng tay thân ái luôn mãi kết chặt tình lam.
"Mỗi người là một cành hoa bay về đây góp gió
Làm thành vườn hoa,vườn hoa Tình Lam chúng mình"

Tình Lam rộng khắp bốn phương
Kết tình huynh đệ thân thương một nhà


